Hiển thị các bài đăng có nhãn Thiên Long Bát Bộ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thiên Long Bát Bộ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 18 tháng 2, 2016

Thiên Long Bát Bộ 49 : Giáo Đơn Vu Chiết Tiễn, Lục Quân Tích Dịch, Phấn Anh Hùng Nộ

Tống Liêu thoát khỏi một trường can qua.
Nhân, tình, nghĩa vẹn cả ba,
Thân kia dẫu thác danh đà lưu phương.


Về đến vương phủ, Gia Luật Hồng Cơ không cho Tiêu Phong gặp mà chỉ hạ lệnh cho Ngự Doanh Đô Chỉ Huy Sứ đem ông giam lại. Ngờ đâu Đô Chỉ Huy Sứ lại tưởng Tiêu Phong trời sinh thần lực, những nhà ngục tầm thường nhốt sao nổi ông ta, bèn sai người đi lấy những loại khóa sắt, xích sắt to lớn nhất, cùm chân tay Tiêu Phong rồi nhốt vào một cái cũi lớn. Cái cũi đó ngày xưa A Tử dùng để nhốt sư tử, chấn song cái nào cái nấy to bằng cánh tay trẻ con.

Bên ngoài cũi lại sai một trăm thân binh, tay cầm giáo dài vây quanh mấy tầng, nếu Tiêu Phong ở trong cũi có gì khác lạ thì bọn thân binh sẽ lập tức dùng mâu đâm ngay, dù ông có khỏe đến mấy cũng không thể trong nháy mắt đã tháo được xích sắt, khóa sắt, phá được cũi chui ra. Bên ngoài vương phủ lại có thêm một tầng thân binh canh gác nghiêm nhặt. Những tướng sĩ trước đây ở Nam Kinh đều bị Gia Luật Hồng Cơ điều đi nơi khác để phòng bọn họ còn trung thành với Tiêu Phong mà nổi loạn cứu ông ta ra.

Tiêu Phong níu chặt lấy lan can bên trong chiếc cũi, nghiến răng cố chịu đựng cơn đau, không còn hơi đâu mà suy nghĩ chuyện gì khác. Mãi tận chiều hôm sau, độc tính của thuốc độc mới dần dần tiêu giải, cơn đau giảm đi. Tiêu Phong lực khí hơi khôi phục lại rồi nhưng vào tình cảnh này thì làm cách nào mà thoát nổi? Ông nghĩ thầm có buồn rầu cũng chẳng đến đâu, vả lại trong đời nguy nan kinh lịch cũng nhiều, không lẽ Tiêu Phong này một đời hào kiệt lại đành chịu chết trong cái chuồng sắt này hay sao? Cũng may các thân binh kính trọng ông là người anh hùng, canh gác tuy dám không lơ là nhưng vẫn đem đồ ăn thức uống đến cho ông, đối xử không kém phần lễ mạo. Tiêu Phong cứ việc uống tì tì, mấy ngày sau chung quanh đầy những bình không.

Gia Luật Hồng Cơ trước sau không hề đến thăm nhưng lại sai mấy người khéo mồm khéo miệng đến khuyên giải, nào là hoàng thượng khoan hồng đại lượng, còn nghĩ đến tình cũ nghĩa xưa nên không nỡ gia hình, mong Tiêu đại vương hối hận xin tha. Tiêu Phong coi bọn thuyết khách này không bằng nửa con mắt, chỉ tự rót rượu uống một mình.

Cứ như thế đến hơn một tháng, bốn tên thuyết khách đó vẫn chưa chịu chán, ngày ngày cũng chỉ có bấy nhiêu, nói qua nói lại lèm bèm mãi, nào là "Hoàng thượng đãi Tiêu đại vương ân đức như núi, chỉ có đường nghe theo lời của hoàng thượng mới mong sống sót mà thôi", nào là "Hoàng thượng thần võ có thể trông thấu suốt chuyện ngoài vạn dặm, cho đến một trăm đời sau, thánh thiên tử đã đoán thì không thể nào sai trật, đại vương nên theo con đường hoàng thượng đã vạch ra là hơn" ... Bọn thuyết khách đó rõ ràng biết rằng không thể nào khuyến dụ được Tiêu Phong, vậy mà vẫn cứ lải nhải mãi không ngừng.

Đến một ngày kia Tiêu Phong đột nhiên nổi bụng nghi ngờ: "Hoàng thượng đâu phải người hồ đồ, sao lại cứ phải cho người đến ỉ ôi khuyên dụ ta? Bên trong hẳn có điều gì khúc mắc". Ông suy nghĩ một chút, đột nhiên nghĩ ra: "Đúng rồi, hoàng thượng đã điều binh khiển tướng, cử đại quân nam chinh nên giả vờ sai mấy tên dấm dớ này đến đây cầm chân ta. Rõ ràng ta đâu còn phản kháng gì được nữa, y muốn giết lúc nào thì giết, việc gì còn phải phí công như thế?".

Tiêu Phong lại suy nghĩ thêm một chút, đã hiểu ngay: "Hoàng thượng tự cho mình là anh hùng, muốn ta phải tâm phục khẩu phục nên ngự giá thân chinh bình nam, sau khi thu giang sơn nhà Đại Tống sẽ đòi mình lên huênh hoang một phen. Y sợ ta nổi máu cương cường, tuyệt thực tự tận nên mới sai bọn tiểu nhân này đến đây nói trời nói đất".

Ông vốn đã chẳng còn coi an nguy sinh tử vào đâu nên dẫu bị giam vào lồng, cũng chẳng thèm tức tối. Tuy không muốn đốc quân nam chinh nhưng Tiêu Phong đâu phải là hạng lo cái lo trước thiên hạ, nghĩ đến Gia Luật Hồng Cơ đã phát binh rồi, không thể nào vãn hồi đại kiếp được nữa, chỉ đành thở dài một tiếng, uống liền tù tì mươi bát rượu cho sướng miệng rồi gác sang một bên không nghĩ đến nữa.

Chỉ thấy bốn gã thuyết khách kia cứ leo lẻo nói mãi, Tiêu Phong bất chợt hỏi:

- Đại quân của Khất Đan chúng ta đã qua sông Hoàng Hà chưa vậy?

Bốn tên thuyết khách hết sức ngạc nhiên, chưng hửng nhìn nhau một hồi, một tên đáp:

- Tiêu đại vương nói thật đúng quá, đại quân của ta đợi ngày sẽ tiến, tuy chưa qua sông Hoàng Hà nhưng chắc cũng chỉ nay mai.

Tiêu Phong gật đầu:

- Thế ra đại quân chưa xuất phát, không biết đến bao giờ mới là ngày Hoàng Đạo?

Bốn tên thuyết khách đưa mắt nhìn nhau, một tên nói:

- Bọn chúng tôi chỉ là thứ tiểu lại hạ liêu, không nghe biết gì về quân tình.

Một gã tiếp lời:

- Chỉ mong Tiêu đại vương hồi tâm chuyển ý, hoàng thượng sẽ đích thân đến gặp đại vương để bàn chuyện quân quốc đại sự.

Tiêu Phong hừ một tiếng, không hỏi thêm nữa, nghĩ thầm: "Nếu hoàng thượng tiến quân thế như chẻ tre, chiếm được Đại Tống rồi sẽ giải ta đến Biện Lương đẩ gặp. Còn như thua trận trở về thì còn mặt mũi nào mà gặp ta, người đầu tiên phải xử tử ấy chính là mình. Nếu thế thì mình mong y lấy được Đại Tống, hay mong y bại trận? A ha! Tiêu Phong hỡi Tiêu Phong, chính ngươi cũng chẳng phải biết nói sao bây giờ!".

Hôm sau vào lúc chiều tối, bốn tên thuyết khách lại lọt tọt đi vào. Những thân binh canh gác Tiêu Phong vốn đã nghe mấy tên này nói lèm bèm phát chán ngấy, vừa trông thấy bọn chúng đã cau mặt, tránh ra mấy bước. Hơn một tháng qua Tiêu Phong không hề có vẻ gì tỏ ra định đào thoát, nên việc giám thị không còn nghiêm nhặt như lúc đầu. Tên thuyết khách đi đầu tằng hắng một cái mở màn:

- Tiêu đại vương, hoàng thượng hạ chỉ, xin đại vương nghinh tiếp: Nếu đại vương cự tuyệt không phụng mệnh, ấy là tội đại ác cực.

Câu này Tiêu Phong nghe đến cả trăm lần rồi, nhưng lần này nghe giọng có vẻ bất thường như thể bị sưng cổ họng, không khỏi đưa mắt nhìn y, vừa thoạt trông đã thấy khác lạ. Chỉ thấy tên thuyết khách đó nhướng mày đảo mắt, vẻ mặt có chiều quái đản, Tiêu Phong nhìn thêm, thấy người đó tướng mạo không giống trước, nhìn kỹ hơn nữa không khỏi vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ, những sợi râu loe hoe của y đều là râu giả gắn vào, mặt mày bôi nham nhở, lem luốc thật khó coi nhưng bên dưới làn da vàng ệch là cái miệng anh đào, mũi thon xinh xinh, chính là A Tử. Chỉ nghe nàng hạ giọng ậm à ậm ừ:

- Hoàng thượng đã nói ắt không thể nào sai, đại vương nếu bằng lòng tuân theo sẽ có chỗ hay. Đây là thánh dụ của Đại Liêu hoàng đế, đại vương đọc kỹ vài lần thì biết.

Y nói xong lấy trong tay áo ra một tờ giấy đưa cho Tiêu Phong. Lúc đó trời đã nhá nhem, đèn đuốc trong sảnh đã được mấy tên thân binh thắp sáng. Tiêu Phong soi lên ánh đèn thấy trên giấy viết tám chữ: "Đại viện đến rồi, tối nay thoát hiểm". Tiêu Phong hừ một tiếng ngao ngán lắc đầu. A Tử nói:

- Lần này bên ta phát binh, quân mã không phải là ít, sĩ cường mã tráng, thể nào cũng kỳ khai đắc thắng, mã đáo thành công, đại vương không phải lo gì cả.

Tiêu Phong đáp:

- Bản ý ta chẳng muốn chết thêm sinh linh nên hoàng thượng mới giam ta lại.

A Tử nói: - Nếu muốn thắng trận phải nhờ vào thần cơ diệu toán chứ đâu phải chỉ giết người mà thôi.

Tiêu Phong lại đưa mắt nhìn vào ba tên thuyết khách còn lại thấy đứa thì cầm quạt phe phẩy, hoặc đưa tay áo rộng hở hở kín kín, không dám nhìn thẳng vào người khác, hẳn là những người A Tử gọi đến tiếp tay. Tiêu Phong thở dài một tiếng nói:

- Hảo ý của các ngươi, Tiêu mỗ cực kỳ cảm kích, có điều kẻ địch thủ ngự nghiêm mật, công thành chiếm đất, thật chẳng có hi vọng gì ...

Còn đang nói, bỗng nghe những tên thân binh thất thanh la hoảng:

- Rắn độc! Rắn độc! Sao rắn ở đâu nhiều thế này?

Chỉ thấy từ cửa cái, cửa sổ vô số rắn bò lổm ngổm, ngóc đầu lè lưỡi, ngoằn ngoèo tiến vào, trong sảnh lập tức rối loạn cả lên. Tiêu Phong chợt hiểu: "Xem trận thế của độc xà dường như do anh em Cái Bang đích thân chỉ huy".

Các thân binh giơ trường mâu, yêu đao vừa đập vừa chém. Người cai quản đội thân binh quát lên:

- Những ai đang hầu hạ Tiêu đại vương không được di động một bước, vi lệnh sẽ bị chém đầu.

Gã quản đội đó cực kỳ bén nhạy, thấy bầy rắn có vẻ khác thường, chỉ sợ lúc đang lộn xộn, Tiêu Phong sẽ thừa cơ thoát thân.. Những thân binh vây quanh cái cũi lập tức đứng yên, dùng trường mây chĩa thẳng vào lồng nhưng vẫn đưa mắt xem chừng những con rắn độc, có con nào bò đến gần liền dùng giáo đập ngay.

Còn đang hỗn loạn, bỗng nghe phía sau vương phủ có tiếng người la ó:

- Lấy nước ra, mau mau cứu hỏa, mau mau cứu hỏa.

Tên quản đội lại quát:

- Khải Hổ Nhi, mau đi bẩm với Chỉ huy Sứ đại nhân, có di chuyển Tiêu đại vương đi không?

Khải Hổ Nhi là một bách phu trưởng, đáp lời quay đi, đang định chạy ra bỗng nghe tiếng người từ sảnh môn hầm hè truyền vào:

- Chớ có trúng phải kế điệu hổ ly sơn của bọn gian tế, nếu có người cướp ngục thì đâm chết Tiêu Phong trước.

Người đó chính là Chỉ Huy Sứ Ngự Doanh Quân. Y tay cầm trường đao, uy phong lẫm lẫm đứng chặn ngay trước cửa. Đột nhiên có một bóng xanh thấp thoáng, ai đó cầm một con rắn xanh ném vào mặt y. Gã chỉ huy sứ liền giơ đao gạt ra, chỉ nghe vèo vèo liên tiếp, có người bắn ám khí, bao nhiêu đèn đuốc trong đại sảnh tắt phụp, căn phòng tối đen như mực. Gã chỉ huy sứ kêu lên một tiếng, trúng phải ám khí, ngã bật ngửa.

A Tử lấy trong tay áo ra một thanh bảo đao thò vào trong cũi, lách cách mấy tiếng, chặt đứt những sợi dây xích sắt trói Tiêu Phong. Tiêu Phong nghĩ thầm: "Những song sắt cái chuồng này vừa to vừa cứng, bảo đao đó chưa chắc đã chặt được". Vừa lúc đó, sàn dưới chân bỗng sụp xuống, A Tử ở bên ngoài chiếc cũi sắt nói nhỏ:

- Theo địa đạo chạy ra.

Kế đó một người nào đó từ dưới hố thò tay nắm chân Tiêu Phong kéo một cái, cả thân hình ông liền rơi tụt vào, thì ra tay thợ lành nghề đào đất của Đại Lý là Hoa Hách Cấn đã đến. Y phải mất hơn mười ngày công phu mới đào được một địa đạo luồn tới cái chuồng đang nhốt Tiêu Phong.

Hoa Hách Cấn nắm được Tiêu Phong rồi liền theo đường hầm bò ngược trở ra, nhanh chẳng khác gì người ta đi trên mặt đất, trong khoảnh khắc đã được hơn trăm trượng, lúc đó mới đỡ Tiêu Phong đứng lên, từ trong hang chui ra.

Chỉ thấy bên ngoài có ba người mặt mũi tươi tỉnh ùa đến, chính là Đoàn Dự, Phạm Hoa và Ba Thiên Thạch. Đoàn Dự kêu lên:

- Đại ca!

Vừa nói vừa xông đến ôm chầm lấy Tiêu Phong. Tiêu Phong cười ha hả nói:

- Đã nghe đến thần kỹ của Hoa tư đồ từ lâu, hôm nay chính mình được thử, quả là bội phục.

Hoa Hách Cấn vui vẻ đáp:

- Được kim khẩu của Tiêu đại vương khen một lời, quả là vinh hoa đệ nhất trong đời tiểu nhân.

Nơi đây cách Nam Viện Đại Vương phủ không xa, bốn bề có tiếng Liêu binh huyên náo. Bỗng nghe có tiếng tù và, kỵ mã từ ngoài chạy tới lớn tiếng kêu la:

- Quân địch đánh vào cửa Đông, thân binh ngự doanh ở đâu thì ở đó, không được di chuyển.

Phạm Hoa nói:

- Tiêu đại vương, mình chạy ra cửa tây.

Tiêu Phong gật đầu:

- Hay lắm, bọn A Tử đã thoát hiểm chưa?

Phạm Hoa chưa kịp trả lời, tiếng của A Tử từ dưới hang đã vọng lên:

- Tỉ phu, thì ra anh vẫn còn nhớ đến em.

Giọng nói đầy vẻ sung sướng. Nghe tiếng loạt soạt, từ dưới hang chui lên, mặt dán râu, đầu cổ đầy đất cát tro than, cực kỳ dơ dáy, thế nhưng dưới mắt Tiêu Phong, từ khi biết nàng đến nay, bây giờ là hình ảnh đẹp hơn cả. Nàng rút bảo đao, định chặt còng cho Tiêu Phong nhưng cái còng đó dính sát vào tay, nếu chỉ lệch đi một chút thì ắt sẽ bị thương, không phải dễ cắt. Nàng bèn đưa bảo đao cho Đoàn Dự:

- Ca ca chặt đi.

Đoàn Dự cầm lấy bảo đao, truyền nội lực vào, chặt cái khóa sắt thật chẳng khác gì gỗ mục. Vừa lúc đó trong hang lại chui ra thêm ba người nữa, một người là Chung Linh, một người là Mộc Uyển Thanh còn người thứ ba là một đệ tử tám túi trong Cái Bang. Y là một hảo thủ giỏi nghề sai khiến rắn, vừa rồi độc xà chạy lung tung trong đại sảnh chính là do y trổ tài. Gã đó thấy Tiêu Phong không hề hấn gì mừng đến chảy nước mắt ấp úng:

- Bang chủ, lão nhân gia ...

Tiêu Phong đã lâu không nghe ai gọi mình là bang chủ, thấy thần tình của gã đệ tử Cái Bang, trong lòng hết sức xúc động, nói:

- Thật mất công ngươi quá nhỉ?

Ông khen một câu khiến gã ăn mày lại càng cảm kích, lại vừa vinh dự, nước mắt ròng ròng. Phạm Hoa nói:

- Nhân mã nước Đại Lý đang động thủ tại cửa đông, mình nên thừa cơ hỗn loạn chạy đi thôi. Tiêu đại vương tốt hơn hết đừng ra tay để người ta có thể nhận ra được.

Tiêu Phong đáp:

- Phải lắm.

Chín người lập tức từ cửa lớn xông ra. Tiêu Phong quay đầu lại nhìn, thì ra đây là một căn nhà gạch đổ nát, bên ngoài trông rất bệ rạc. A Tử dùng tiếng Khất Đan kêu lớn:

- Lấy nước mau! Lấy nước mau!

Phạm Hoa, Hoa Hách Cấn cả bọn bắt chước nàng, cũng la lối theo. Ba Thiên Thạch, Phạm Hoa nhìn quanh quất không thấy tên Liêu binh nào nên đến đâu châm lửa đến đó, chẳng mấy chốc đã đốt đến bảy tám chỗ.

Chín người chạy về hướng tây. Bọn Đoàn Dự vốn đã thay y phục Khất Đan rồi, trong thành lại đang đại loạn thành thử chẳng ai chú ý, chỉ khi nào thấy đại đội binh mã Khất Đan đuổi theo thì mới kiếm những chỗ tối tăm ẩn náu. Chạy qua khỏi hơn chục con đường đã nghe phương bắc có tiếng tù và rầm rĩ, tiếng người lao xao, kêu la:

- Chao ôi, quân địch đánh vào cửa bắc, hoàng thượng bị địch bắt rồi.

Tiêu Phong hoảng hốt vội ngừng chân hỏi:

- Liêu đế bị bắt ư? Tam đệ, Liêu đế là anh kết nghĩa của ta, y tuy đối với ta bất nhân nhưng ta không thể đối với y bất nghĩa, nhất định không nên giết y ...

A Tử cười đáp:

- Tỉ phu yên tâm, đây là ba mươi sáu động động chủ, bảy mươi hai đảo đảo chủ của cung Linh Thứu. Tiểu muội dạy họ thuộc lòng mấy câu Khất Đan, bây giờ la lên để phao tin nhảm làm loạn lòng người đấy thôi. Trong thành Nam Kinh trọng binh trú đóng, hoàng đế có đến hơn vạn thân binh bảo hộ, làm sao bắt được?

Tiêu Phong mừng rỡ hỏi:

- Thuộc hạ của nhị đệ cũng đến rồi hay sao?

A Tử đáp:

- Nào chỉ thuộc hạ của tiểu hòa thượng thôi đâu, chính chú tiểu cũng đến nữa, luôn cả vợ y cũng đi theo.

Tiêu Phong ngạc nhiên:

- Cái gì mà lại vợ chú tiểu?

A Tử cười đáp:

- Tỉ phu không biết đâu, vợ của Hư Trúc Tử chính là công chúa Tây Hạ, có điều mặt lúc nào cũng lấy khăn che kín mít, trừ một mình tiểu hòa thượng ra, không một ai thấy cả. Tiểu mưội có hỏi y: "Vợ nhị ca đẹp không?" thì y chỉ cười không trả lời.

Tiêu Phong khi đó bỏ đi bây giờ lại nghe chuyện lạ lùng thế này, tuy mừng thầm cho Hư Trúc, nhưng không khỏi đưa mắt dò ý Đoàn Dự. Đoàn Dự cười nói:

- Đại ca chớ có lo xa, tiểu đệ không để bụng đâu, nhị ca cũng không phải là thất tín. Chuyện này nói ra dài dòng, mình sẽ từ từ nói chuyện sau.

Nói tới đây thì đoàn người đã chạy thêm được một quãng, thấy đằng trước trên một bãi đất rộng có một cái đài cao, lửa cháy ngút trời, hai cột cờ lớn trước mặt lửa đang cháy lem lém. Tiêu Phong biết khu đất này là đại hiệu trường, dùng cho Liêu binh tập luyện, không biết cái đài này dựng lên từ bao giờ mà mình không hay biết.

Ba Thiên Thạch nói với Đoàn Dự:

- Bệ hạ, điểm tướng đài và soái tự kỳ của Liêu đế bị đốt thế này, quả là điềm gở cho quân Liêu, chuyến hành quân phạt Tống của Gia Luật Hồng Cơ e rằng không xong.

Đoàn Dự gật đầu:

- Quả đúng như thế.

Tiêu Phong nghe y gọi là "bệ hạ" mà Đoàn Dự cũng gật gù, trong bụng lấy làm lạ hỏi:

- Tam đệ, ngươi ... ngươi đã lên ngôi hoàng đế rồi đấy ư?

Đoàn Dự buồn bã đáp:

- Tiên phụ bất hạnh giữa đường băng tồ, hoàng bá phụ lại bỏ ngai vàng đi tu, xuất gia ở chùa Thiên Long nên ép tiểu đệ tiếp vị. Tiểu đệ không tài không đức, ở ngôi cao thế này, thực là xấu hổ.

Tiêu Phong kinh hãi:

- Ối trời, bá phụ khứ thế rồi ư? Tam đệ, ngươi là chúa một nước Đại Lý, sao lại vì ta mà đem thân vào chỗ nguy nan, mạo hiểm thế này? Nếu bị tổn thương, thì ta ... ta... thật không phải với quân dân Đại Lý.

Đoàn Dự cười khì khì nói:

- Đại Lý chỉ là một nước nhỏ ở một góc nam cương, hai chữ "hoàng đế" kể cũng quá đáng. Tiểu đệ ngờ nghệch, trông chẳng ra vẻ ông vua, có chút nào giống hoàng đế đâu? Để người ta gọi là "bệ hạ" quả thật xấu hổ. Anh em ta tình như cốt nhục, đại ca bị nạn, tiểu đệ lẽ nào không chia xẻ với nhau một chút hay sao?

Phạm Hoa nói:

- Tiêu đại vương lần này hết sức can ngăn Liêu đế, khuyên đừng phạt Tống, tệ quốc từ trên xuống dưới ai ai cũng thâm cảm đại đức. Liêu đế nếu lấy được Đại Tống rồi, bước kế tiếp ắt sẽ thu Đại Lý. Tệ quốc binh ít tướng yếu, làm sao chống chọi được với tinh binh Đại Liêu? Tiêu đại vương cứu Đại Tống mà cũng là cứu Đại Lý, Đại Lý từ rày hết lòng hết dạ ra sức vì đại vương thì cũng là chuyện đương nhiên thôi.

Tiêu Phong nói:

- Ta chỉ là một kẻ dũng phu, chỉ vì không đành lòng để hai nước giao chiến, hại thương bách tính, chứ đâu có công lao gì?

Vừa nói đến đây, bỗng thấy phía nam lửa bốc lên ngút trời, một đoàn người tay xách nách mang, chen vào đoàn quân cùng chạy qua, ai nấy kêu la:

- Các hòa thượng chùa Thiếu Lâm cùng vô số hảo hán đang đánh vào cửa nam.

Lại có người nói:

- Nam Viện Đại Vương Tiêu Phong làm loạn, hàng nhà Tống rồi, đã giết mất hoàng đế Đại Liêu.

Lập tức có mấy người Khất Đan nghiến răng trợn mắt nói:

- Gã Tiêu Phong phản quốc hàng địch, bọn ta hận không được lột da ăn thịt y.

Một người khác liền hoảng hốt hỏi lại:

- Có thực là vạn tuế gia bị tên gian tặc Tiêu Phong sát hại không?

Một người liền đáp:

- Sao lại không thực? Chính mắt ta thấy gã Tiêu Phong cưỡi một con ngựa trắng, xông đến trước mặt vạn tuế, đâm một giáo từ ngực vạn tuế gia suốt tận bên kia.

Một ông già nói:

- Tên cẩu tặc Tiêu Phong đó sao vô lương tâm thế? Thế thì quả thực y là người Khất Đan hay là người Hán?

Một hán tử đáp:

- Nghe nói y là man tử Nam triều giả làm người Khất Đan, tên cẩu tặc đó thật gian ác, quả không bằng loài cầm thú.

A Tử nghe những người đó nhục mạ Tiêu Phong nổi giận, vung roi đánh ngựa, tính quật vào gã Khất Đan ở bên cạnh. Tiêu Phong vội giơ tay gạt ra, lắc đầu nói nhỏ:

- Cứ để cho họ nói gì thì nói.

Ông hỏi thêm:

- Có thực là các vị cao tăng chùa Thiếu Lâm đã đến rồi chăng?

Gã đệ tử tám túi đáp:

- Xin bẩm với bang chủ: Đoàn cô nương từ Nam Kinh đi ra gặp ngay Ngô trưởng lão của bản bang, nói là bang chủ vì sinh mạng của bách tính Đại Tống nên nhất định khuyên Liêu đế đừng xuất quân chinh phạt nên đã bị cầm tù. Ngô trưởng lão không tin, bảo là bang chủ người Liêu, lẽ nào lại lo cho người Tống? Y bèn lẻn vào Nam Kinh đích thân nghe ngóng, thấy lời của Đoàn cô nương quả không sai. Ngô trưởng lão lập tức truyền "Thanh Trúc Lệnh" của bản bang, đem hành vi đại nhân đại nghĩa của bang chủ truyền khắp anh hùng thiên hạ. Võ lâm Trung Nguyên cảm kích ân đức nên do các cao tăng Thiếu Lâm thống lãnh tất cả đều đến cứu viện bang chủ.

Tiêu Phong nghĩ đến năm xưa nơi Tụ Hiền Trang đối địch với quần hùng Trung Nguyên, giết không ít anh hùng hảo hán, hôm nay họ lại đi cứu mình, trong lòng không khỏi băn khoăn, lại thêm cảm kích. A Tử nói:

- Tin tức do các bạn ăn mày trong Cái Bang truyền ra thảo nào nhanh đến thế! Chao ôi, hỏng rồi, tiếc quá, tiếc quá!

Đoàn Dự hỏi lại:

- Tiếc cái gì?

A Tử đáp: - Cái tòa Thần Mộc Vương Đỉnh của em, đốt hương để trong đại sảnh để dụ rắn, lập cập quá nên quên mang theo.

Đoàn Dự cười nói:

- Cái thứ bàng môn tả đạo đó, quên thì thôi, mang theo làm gì?

A Tử đáp:

- Hứ, cái gì mà bàng môn tả đạo? Không có món bảo vật đó, làm sao dụ được nhiều rắn độc đến mau như vậy, để cho tỉ phu có thể dễ dàng thoát thân?

Còn đang nói chuyện đã nghe tiếng binh khí chạm nhau leng keng leng keng không dứt, dưới ánh lửa thấy vô số Liêu binh đánh lẫn nhau. Tiêu Phong lạ lùng:

- Ồ, sao bên mình ...

Đoàn Dự đáp:

- Đại ca, người nào cổ có buộc vải trắng là phe ta.

A Tử lấy ra một manh vải trắng đưa cho Tiêu Phong nói:

- Tỉ phu buộc vào đi.

Trong một thoáng, Tiêu Phong biết là Liêu binh không phân biệt ai là bạn, ai là thù không biết phải giết ai. Đánh nhau một hồi trở thành người Liêu tàn sát lẫn nhau. Những người cổ có buộc vải trắng chém đao nào, đâm mũi giáo nào cũng nhằm binh sĩ nước Liêu. Tiêu Phong thấy người Liêu chết nằm ngổn ngang, máu đầy mặt đất, tay cầm miếng vải mà run lên bần bật, trong lòng nghe như có tiếng vang lên: "Ta là người Khất Đan, không phải người Hán! Ta là người Khất Đan, không phải người Hán!". Miếng vải đó ông không làm sao buộc lên cổ mình được.

Ngay lúc đó có tiếng kẹt kẹt vang lên, hai cánh cửa thành nặng nề từ từ mở. Đoàn Dự và Phạm Hoa kèm Tiêu Phong cùng chạy ra. Ngoài thành dưới ánh lửa đuốc bập bùng, vô số người của Cái Bang dắt ngựa chờ sẵn, vừa thấy Tiêu Phong xông ra lập tức reo hò ầm ỹ:

- Kiều bang chủ! Kiều bang chủ!

Lửa sáng rực cả bầu trời, tiếng người vang động mặt đất. Lại thấy hai con rồng lửa uốn éo ở hai bên, một người cưỡi ngựa từ chính giữa chạy thẳng đến. Ngồi trên ngựa là một người ăn mày già hai tay cầm cây gậy đánh chó, tín vật của bang chủ Cái Bang giơ lên khỏi đầu, chính là Ngô trưởng lão. Y chạy đến trước mặt Tiêu Phong, nhảy xuống ngựa, quì dưới đất nói:

- Ngô Trường Phong được chúng huynh đệ ủy thác, giao đả cẩu bổng của bản bang lại cho bang chủ. Chúng tôi quả thực hồ đồ đáng chết, đầu óc lú lẩn, nghi oan cho người ngay, khiến cho bang chủ phải chịu muôn vàn khổ sở. Chúng tôi thật không bằng con heo con chó, chỉ mong bang chủ không chấp nhất lỗi lầm của kẻ tiểu nhân, thương hại bọn chúng tôi bơ vơ côi cút, không nơi nương tựa mà quay trở lại nhận chức bang chủ. Chúng tôi bị kẻ gian xúi biểu, bảo bang chủ là Hồ cẩu Khất Đan, quả là đáng chết. Chúng tôi đã đem tên gian đồ Toàn Quan Thanh loạn đao phân thi để rửa hờn cho bang chủ rồi.

Nói xong y đưa chiếc gậy đánh chó cho Tiêu Phong. Tiêu Phong trong lòng chua chát nói:

- Ngô trưởng lão, tại hạ quả thực là người Khất Đan. Được các vị trọng nghĩa đối đãi như thế, tại hạ cảm kích không đâu cho hết nhưng chức vị bang chủ quả vạn lần không dám đảm đương.

Ông vừa nói vừa đưa tay đỡ Ngô trưởng lão lên. Ngô Trường Phong thần tình hoang mang, vò đầu bứt tai ấp úng:

- Ông ... ông cũng bảo ông là người Khất Đan ư? Ông ... không nhận chức bang chủ? Kiều bang chủ, xin ông rộng lượng đừng giận chúng tôi nữa.

Bỗng nghe phía trong thành tiếng trống nổi lên rồi đại đội Liêu binh xông ra. Tiêu Phong kêu lên:

- Ngô trưởng lão, chúng mình chạy đi thôi. Liêu binh dũng mãnh, nếu kết thành trận thế thì không thể nào chống nổi.

Tiêu Phong biết rằng Cái Bang và quần hùng Trung Nguyên nhất thời chiếm được thượng phong, chẳng qua là do tấn công bất ngờ khiến đối phương trở tay không kịp, còn như thực sự hai bên giao chiến thì một nghìn, vài trăm nhân vật giang hồ làm sao chống nổi với hàng vạn quân tinh nhuệ? Huống chi nếu đã hỗn chiến rồi, hai bên tử thương đều nặng như thế trái với bản ý của mình, bèn nói:

- Ngô trưởng lão, vấn đề bang chủ, để từ từ rồi tính sau cũng chưa muộn. Ông mau truyền lệnh cho các anh em rút lui về hướng tây.

Ngô Trường Phong đáp:

- Vâng!

Y lập tức truyền lệnh ra, bang chúng Cái Bang hậu đội đổi thành tiền đội, chạy về hướng tây. Chẳng bao lâu Hư Trúc Tử cũng suất lãnh các thuộc hạ chư nữ cùng các dị sĩ bảy mươi hai đảo, ba mươi sáu động đánh rốc qua để cùng nhau hợp lại. Chạy được mấy dặm, các võ sĩ Đại Lý dưới quyền điều động của Phó Tư Qui, Chu Đan Thần cũng chạy đến. Thế nhưng quần tăng Thiếu Lâm và quần hào Trung Nguyên thì vẫn không thấy đâu. Chỉ nghe văng vẳng tiếng chém giết trong thành Nam Kinh vọng ra.

Tiêu Phong nói:

- Quần hào và phái Thiếu Lâm bị kẹt lại trong thành rồi, mình chịu khó chờ thêm chút nữa.

Một hồi sau, tiếng la ó trong thành càng thêm rầm rĩ. Đoàn Dự nói:

- Đại ca đợi ở đây để tiểu đệ đi vào tiếp ứng bọn họ chạy ra.

Chàng liền dẫn võ sĩ Đại Lý chạy trở vào thành Nam Kinh. Khi đó trời đã sáng dần, Tiêu Phong trong lòng lo lắng, không biết quần hào Nam Kinh có thoát hiểm chăng, lại nghe sát thanh càng lúc càng lớn, các võ sĩ Đại Lý quay trở vào đã lâu mà không thấy một ai chạy ra được.

Một tên thám tử Cái Bang cưỡi ngựa chạy ra báo:

- Mấy nghìn quân thiết giáp Liêu binh chặn cửa Tây rồi, võ sĩ Đại Lý không qua nổi, mà quần hào Trung Nguyên cũng không ra được.

Hư Trúc phất tay một cái nói:

- Linh Thứu Cung chúng ta xông vào tiếp ứng.

Y liền dẫn hai nghìn hảo hán các lộ, cùng cửu bộ chư nữ quay trở lại. Tiêu Phong cưỡi trên mình ngựa, nhìn qua hướng đông, thấy trong thành Nam Kinh khói bốc khắp nơi, đông một ngọn lửa, tây một ngọn lửa không biết hỗn loạn như thế nào rồi. Đợi đến hơn nửa giờ, lại thêm một tên thám tử nữa chạy ra báo:

- Đoàn hoàng gia Đại Lý và Hư Trúc Tử tiên sinh cung Linh Thứu đã mở một đường máu vào được trong thành rồi.

Trước đây mỗi khi có giao chiến Tiêu Phong bao giờ cũng thân tiên sĩ tốt, lần này lại phải đứng ở xa xa chỉ biết sốt ruột lo lắng, thật chịu không nổi, bèn nói:

- Để ta đi xem!

A Tử, Mộc Uyển Thanh, Chung Linh ba người cùng khuyên:

- Người Liêu phải bắt được đại ca mới thôi, nhất định chớ nên mạo hiểm.

Tiêu Phong đáp:

- Không sao!

Ông giục ngựa chạy lên, các bang chúng Cái Bang liền theo sau. Đến bên ngoài cửa tây thành Nam Kinh thấy dưới chân thành, trên bờ thành cùng dưới hào có đến mấy trăm người chết, cả binh tướng nước Liêu lẫn bộ thuộc của Đoàn Dự và Hư Trúc. Cửa thành còn đang đóng hờ, hai tên đảo chủ tay cầm đại đao, chặn ngay cửa thành đang đánh nhau với quân Liêu không cho chúng đóng cửa lại.

Bỗng nghe từ phía nam phía bắc tiếng vó ngựa dồn dập, Tiêu Phong kinh hãi:

- Không xong rồi, đại đội Liêu binh đang chia hai đường bao vây lại, chúng mình không nên chịu khốn ở nơi đây.

Ông cầm lấy một cái giáo gẫy nhảy vọt lên, chống mũi giáo vào tường, mượn sức nhảy thêm lần nữa, liên tiếp mấy lần đã lên được đầu thành, nhìn vào bên trong, thấy trong khoảng mấy dặm vuông ở mạn tây, chỗ này một đám, chỗ kia một đám, hào kiệt Trung Nguyên bị quân Liêu vây đánh, xem ra nơi nào cũng chỉ ở đâu lo đấy. Quần hào tuy võ công cao cường nhưng mỗi người phải đánh với bảy tám, có khi mười người không chừng, một hồi lâu đều lâm vào thế quả bất địch chúng.

Tiêu Phong đứng ở trên đầu thành, nhìn vào trong thành rồi lại nhìn ra ngoài, thực không biết phải chọn bên nào. Quần hào vì cứu mình mà đến, không lẽ lại đứng giương mắt trơ trơ nhìn họ bị Liêu binh giết hại, thế nhưng nếu nhảy xuống cứu, thì là công khai chống lại nước Liêu, thành kẻ Liêu gian phản quốc, không những bất hiếu bất mục với tổ tông mà còn để cho muôn đời sỉ tiếu. Còn như chạy khỏi Nam Kinh bỏ nước tị nạn, người ngoài chẳng qua chỉ mỉa mai "Tiêu Phong bất trung" chứ nếu quay giáo chống Liêu thì tội lỗi đối với đất nước trở thành cực kỳ to lớn.

Tiêu Phong hành sự xưa nay hào sảng thẳng thắn, quyết đoán cực nhanh, bây giờ ở vào thế hai mặt đều là đường cùng, trong một thoáng đã thấy bên tường thành bảy tám tên võ sĩ Khất Đan vây đánh hai nhà sư Thiếu Lâm. Một nhà sư múa giới đao, miệng hộc máu, đủ biết đã bị thương nặng, Tiêu Phong chăm chú nhìn nhận ra đó là Huyền Minh, còn nhà sư kia múa thiền trượng hết sức hộ vệ, chính là Huyền Thạch. Hai tên Liêu binh múa trường đao chém xuống Huyền Minh. Huyền Minh đã bị trọng thương, không đỡ nổi. Huyền Thạch vội đảo thiền trượng, hất cán lên, đánh giạt hai thanh đao ra. Chỉ nghe Huyền Minh kêu rú lên một tiếng, vai trái đã trúng đao. Huyền Thạch vội tạt trượng ra đánh tên lính Liêu xương gân gãy nát. Thế nhưng cũng vì thế mà ngực bị trống, một tên võ sĩ Khất Đan liền cầm mâu đâm vào, trúng ngay bụng Huyền Thạch. Thiền trượng Huyền Thạch liền đập xuống, tên lính kia nát đầu nhưng xem ra y cũng chỉ chết trước ông giây lát. Huyền Minh múa loạn thanh đao chẳng còn chiêu số gì nữa, nước mắt chảy dài kêu lên:

- Sư đệ! Sư đệ!

Tiêu Phong thấy thế nhiệt huyết dâng tràn, không còn nhịn thêm được nữa quát lớn:

- Tiêu Phong ở đây, muốn giết thì đến giết ta đi, chớ có hại người vô tội.

Ông từ trên tường thành nhảy xuống, còn ở trên không đã đá văng hai tên lính Liêu ra xa, chân vừa chấm đất đã một tay chộp Huyền Minh, tay kia tiếp lấy thiền trượng của Huyền Thạch, kêu lên:

- Tại hạ cứu viện quá chậm, tội nghiệt quả là thâm trọng.

Ông liền vung thiền trượng hất hai tên võ sĩ Khất Đan ra ngoài mấy trượng. Huyền Thạch gượng gạo đáp:

- Chúng tôi vu oan cho cư sĩ là người Khất Đan, tội nghiệt còn nặng hơn, thiện tai, thiện tai! Hôm nay cạn ao bèo ...

Hai chữ "xuống đất" chưa nói hết đã hộc máu, đầu ngoẹo qua tắt thở. Tiêu Phong tay đỡ Huyền Minh, xông qua bên trái vào nơi mấy tên võ sĩ Đại Lý đang bị vây. Binh tướng nước Liêu thấy Nam Viện Đại Vương thần uy lẫm lẫm xuất hiện, ai nấy khiếp đảm. Tiêu Phong vũ động thiền trượng, xa thì đâm, gần thì đánh, tuy không giết người nhưng ai gặp phải cũng đều bị thương. Lính Liêu vội vàng bỏ chạy, Tiêu Phong tả xung hữu đột, trong khoảnh khắc đã tụ được hai trăm người lại một chỗ. Ông lớn tiếng kêu:

- Các vị chớ có tách rời nhau.

Ông cùng hai trăm người đó chạy khắp nơi, thấy dâu có người bị vây liền xông đến, cứu người ra, chẳng khác gì tuyết lăn, càng lúc càng lớn, đến lúc được trên nghìn người rồi thì Liêu binh không còn ngăn cản được nữa. Sau đó Tiêu Phong cùng Hư Trúc, Đoàn Dự và Huyền Độ đại sư của phái Thiếu Lâm dẫn quần hào Trung Nguyên xông ra cửa thành.

Tiêu Phong tay cầm thiền trượng, đứng bên cổng thành, nhường cho quần hào Đại Lý, Linh Thứu và Trung Nguyên lần lượt đi ra. Binh tướng nước Liêu chỉ đứng xa xa hò hét, không ai dám xông lên tấn công. Tiêu Phong đợi cho mọi người ra hết rồi mới ra sau cùng, ra khỏi cửa thành quay đầu nhìn lại, thấy xác chết khắp nơi, trận chiến này chết không biết bao nhiêu người, còn thấy hai nữ tướng cung Linh Thứu nằm gục trong đống máu rên rỉ quằn quại, ông lại quay vào chộp lưng hai người đó xách chạy ra.

Bỗng nghe tiếng trống đánh rầm trời, hai đội kỵ binh theo hai bên nam bắc xông tới. Tiêu Phong trông thấy mà rùng mình, hai đội này mỗi đội phải trên một vạn người, bên mình đánh đã lâu, người nào không bị thương thì cũng mỏi mệt lắm rồi làm sao ngự địch được nữa? Ông bèn kêu lên:

- Bang chúng Cái Bang đoạn hậu, nhường ngựa cho các anh em bị thương chạy trước.

Những người Cái Bang lớn tiếng đáp ứng, lục tục xuống ngựa. Tiêu Phong lại quát:

- Kết thành Đả Cẩu Đại Trận.

Bang chúng Cái Bang miệng đọc bài "Liên Hoa Lạc", sắp thành một bức tường người. Tiêu Phong hô tiếp:

- Huyền Độ đại sư, nhị đệ, tam đệ, mau mau suất lãnh các bằng hữu rút lui về hướng tây để cho Cái Bang đi sau chặn đường.

Mặt trời lúc ấy vừa mới lên, chiếu vào lưỡi đao mũi giáo quân Liêu lấp loáng, hàng vạn vó ngựa nhịp trên mặt đất khiến cho núi đồi rung chuyển. Hư Trúc và Đoàn Dự thấy thế của quân Liêu, biết Đả Cẩu Đại Trận của Cái Bang không thể nào ngăn chặn nổi, liền đứng hai bên Tiêu Phong nói:

- Đại ca, anh em mình kết nghĩa, có nạn cùng chịu, sống chết bên nhau.

Tiêu Phong đáp:

- Vậy các ngươi mau bản bản bộ nhân mã rút lui trước đi.

Hư Trúc, Đoàn Dự lập tức truyền lệnh. Thế nhưng bộ thuộc Linh Thứu Cung nhất định không bỏ chủ nhân ở lại, tướng sĩ Đại Lý cũng không chịu để hoàng đế ở nơi hiểm địa, bỏ chạy lấy mình. Trước mắt thấy quân Liêu mỗi lúc một gần, tên bắn rơi chỉ còn cách bọn Tiêu Phong chừng mươi trượng, Huyền Độ vốn dĩ đã dẫn quần hào Trung Nguyên chạy được một quãng, lúc này thấy tình hình hung hiểm, lại có mấy chục người quay trở lại trợ chiến.

Tiêu Phong bụng ngầm than khổ, nghĩ thầm: "Những người này ai nấy võ công cao cường nhưng tụ tập một nơi cũng chỉ là một bầy ô hợp, không theo binh pháp bố trí thì đánh sao lại quân Liêu? Ta có chết cũng chẳng hề chi, nhưng tất cả mọi người sẽ đều chết bên ngoài thành Nam Kinh này, thế mới ... thế mới ...".

Còn đang chưa biết tính sao, đột nhiên trong đại quân Liêu phèng la rầm rĩ, chính là tiếng chiêng thu quân. Đám quân Liêu đang hùng hổ phóng tới nghe tiếng phèng la, vội vàng chuyển đầu ngựa, hậu đội biến thành tiền đội, chia ra hai hướng nam bắc quay trở về. Tiêu Phong ngạc nhiên không hiểu vì lý do gì, chỉ thấy phía sau đoàn quân tiếng hò reo rầm rĩ, bụi bay mù mịt, dường như có quân mã đang tấn công vào hậu diện, lại càng kỳ quái: "Sao phía sau quân Liêu lại có binh mã, không lẽ có kẻ nào nổi loạn hay sao? Hoàng thượng trước mặt sau lưng đều thụ địch, e rằng có chuyện không hay". Ông thấy quân Liêu bị khốn lập tức nghĩ đến an nguy của Gia Luật Hồng Cơ.

Tiêu Phong nhảy lên lưng ngựa, nhìn qua trận thế quân Liêu, thấy khắp nơi cờ trắng phất phới, tên bắn như mưa rào, quân Liêu lả tả rơi xuống ngựa. Tiêu Phong lập tức hiểu ra: "À, các bằng hữu của bộ tộc Nữ Chân đã đến rồi đây, không biết vì sao họ lại biết tin?".

Người Nữ Chân tiễn pháp thật thần kỳ, lại thêm dũng mãnh, cứ một trăm người thành một tiểu đội, nằm nép qua một bên ngựa, hò hét vang rân xông vào xung sát, trong chốc lát đã làm loạn thế trận của quân Liêu. Người Nữ Chân tuy nhân số không đông nhưng dũng mãnh thiện chiến, lại tấn công bất ngờ nên viên chỉ huy quân Liêu thấy tình hình bất lợi, sợ nhân mã của Tiêu Phong tấn công phía trước vội vàng thu binh rút lui vào trong thành.

Phạm Hoa là đại tư mã của Đại Lý, tinh thông binh pháp, thấy có thể khai thác cơ hội vội vàng bẩm với Tiêu Phong:

- Tiêu đại vương, mình nên mau mau xung sát, bây giờ chính là lương cơ để phá giặc.

Tiêu Phong lắc đầu. Phạm Hoa lại nói:

- Nơi đây còn cách Nhạn Môn Quan rất xa, nếu không thừa cơ phá tan quân Liêu thì sẽ để lại hậu hoạn. Quân địch đông, quân ta ít thực khó mà rút lui cho an toàn được.

Tiêu Phong lại lắc đầu. Phạm Hoa không hiểu tại sao, nghĩ thầm: "Tiêu đại vương không muốn đuổi tận sát tuyệt, không lẽ còn muốn giữ lại chút tình trước đây với Liêu đế chăng?".

Trong đám khói bụi mù mịt, một đoàn người Nữ Chân kẻ thì cởi trần thân trên, kẻ thì khoác da thú, cưỡi ngựa xông tới chém giết, tên nỏ bắn vèo vèo không để sót một ai. Khoảng hơn một nghìn quân Liêu đi sau cùng không kịp vào thành đều bị người Nữ Chân bắn chết nằm gục dưới chân thành.

Người Nữ Chân cạo sạch tóc phía trước trán, đằng sau tết thành đuôi sam, ai nấy mặt mày dữ tợn, người đầy máu, bắn chết địch thủ rồi liền vung dao chặt luôn thủ cấp, đeo vào lưng, có người đeo đến hơn chục cái đầu lâu. Quần hào ở trên giang hồ từng chứng kiến xung sát đã nhiều nhưng hung ác tàn nhẫn của những người man rợ này bây giờ mới thấy lần đầu, không ai là không kinh hãi.

Một gã thợ săn cao lớn đứng trên mình ngựa, lớn tiếng gọi:

- Tiêu đại ca, Tiêu đại ca, Hoàn Nhan A Cốt Đả đến giúp đại ca đây.

Tiêu Phong phóng ngựa chạy vụt lên, hai người bốn bàn tay nắm chặt lấy nhau. A Cốt Đả vui mừng nói:

- Tiêu đại ca, hôm đó đại ca không từ biệt mà đi mất khiến cho huynh đệ ngày ngày thương nhớ, về sau nghe thám tử nói Tiêu đại ca làm quan to bên nước Liêu, cũng yên tâm. Có điều người Liêu giảo hoạt, đại ca làm quan e không được lâu bền. Quả nhiên hôm trước nghe báo: đại ca bị tên hoàng đế chó má kia giam tại trong ngục, huynh đệ vội đem binh mã tới cứu, may quá ca ca không chết cũng không bị thương, huynh đệ vui mừng lắm.

Tiêu Phong đáp:

- Đa tạ người anh em tới cứu.

Nói chưa dứt câu, trên đầu thành tên bắn xuống như mưa nhưng hai người đứng khá xa nên tên không thể bắn tới được. A Cốt Đả giận dữ nói:

- Đồ Khất Đan chó má! Ta đang cùng ca ca nói chuyện lại dám phá đám.

Y giương cung lên, vèo vèo vèo từ chân thành bắn luôn ba mũi tên, chỉ nghe ba tiếng kêu thảm thiết, ba tên Liêu binh trúng tiễn, từ bên trên lộn nhào xuống. Liêu binh bắn không tới y trong khi y dùng cung cứng tên dài bắn được xa hơn, ba phát trúng cả ba. Trên đầu thành lính Liêu kêu la rầm rĩ, vội vàng lấy cung về đưa khiên ra đỡ. Chỉ nghe trong thành tiếng trống đánh thùng thùng, thì ra quân Liêu đã tập hợp binh lính, kiểm điểm tướng sĩ.

A Cốt Đả lớn tiếng nói:

- Bầy sói nghe đây! Bọn chó má Khất Đan đang tính chui ra khỏi cái lỗ chó đó, mình xông vào giết chúng một mẻ nữa cho sướng tay.

Người Nữ Chân lớn tiếng reo hò tưởng chừng như hàng vạn con thú cùng tru lên. Tiêu Phong nghĩ bụng nếu hai bên đánh trận này, tử thương ắt là rất nặng vội can:

- Huynh đệ, ngươi tới cứu ta, lúc này ta đã thoát hiểm rồi, còn đánh nữa làm gì? Hai anh em ta lâu ngày không gặp, đi tìm chỗ nào an tĩnh uống một trận cho túy lúy xem nào.

Hoàn Nhan A Cốt Đả nói:

- Nếu đại ca đã nói thế thì thôi mình đi.

Chỉ thấy cửa thành mở toang, một đội thiết giáp quân Liêu cưỡi ngựa phóng ra. A Cốt Đả cất tiếng chửi:

- Giết cho sạch bọn Khất Đan chó má.

Y lắp tên giương cung bắn vụt ra, trúng ngay mặt tên đi đầu, lập tức ngã xuống ngựa. Những người Nữ Chân còn lại cũng bắn ra, bắn phát nào cũng trúng mặt người Liêu. Những người đó tiễn pháp rất tinh xảo, đầu mũi tên lại tẩm thuốc độc, người trúng tên không kip hự lên tiếng nào đã lăn ra chết ngay, chỉ phút chốc ngoài cửa thành đã có đến mấy trăm người chết, người ngựa khôi giáp chất thành một cái gò nhỏ, chặn mất cửa thành. Những người Liêu còn lại sợ đến hết hồn vội đóng chặt cửa thành không dám ra thêm nữa.

Hoàn Nhan A Cốt Đả liền suất lãnh người trong bộ tộc mình dưới chân thành diệu võ dương uy, to mồm chửi rủa. Tiêu Phong nói:

- Huynh đệ, thôi mình đi.

A Cốt Đả đáp:

- Được!

Y chỉ tay lên thành chửi:

- Bọn chó Khất Đan nghe đây, may cho các ngươi không đụng tới một sợi lông măng của Tiêu đại ca nên hôm nay tha cho khỏi chết. Nếu không ta đã phá thành bắt bọn chó chúng bay từng đứa một ra bắn bỏ.

Sau đó y cùng Tiêu Phong cưỡi ngựa song song đi về hướng tây, đi hơn chục dặm đến một ngọn đồi. A Cốt Đả nhảy xuống ngựa, từ bên yên ngựa lấy ra một túi rượu đưa cho Tiêu Phong nói:

- Ca ca, uống rượu.

Tiêu Phong cầm lấy, uống ừng ực một hơi hết nửa bình rồi giao lại cho A Cốt Đả. A Cốt Đả uống sạch chỗ còn lại nói:

- Ca ca, chi bằng ca ca theo huynh đệ đến núi Trường Bạch, săn bắn uống rượu, tiêu dao khoái hoạt.

Tiêu Phong biết rõ tính khí Gia Luật Hồng Cơ, hôm nay bị A Cốt Đả đánh thua một trận ở Nam Kinh lại lên tiếng nhục mạ, thật là mất mặt, ắt sẽ không bỏ qua, thể nào cũng đem binh sang đánh. Người Nữ Chân tuy dũng mãnh thật nhưng dẫu sao cũng ít người, thắng bại thực không thể biết trước chi bằng không đánh nhau là hơn. Ông nghĩ đến hồi trước ở núi Trường Bạch, ngoài việc trị thương cho A Tử ra không phải lo nghĩ gì, cũng chẳng tranh danh đoạt lợi với ai, nếu từ nay ở với người Nữ Chân thì sẽ tránh được bao nhiêu phiền nhiễu bèn nói:

- Huynh đệ, những anh hùng hào kiệt từ Trung Nguyên đến đây cũng đều vì cứu ta mà ra, để ta tiễn họ đến Nhạn Môn Quan rồi sẽ cùng người anh em gặp lại.

A Cốt Đả mừng rỡ đáp:

- Bọn man tử Trung Nguyên xí xa xí xô phần nhiều không phải người tốt, ta cũng chẳng muốn gặp họ làm chi.

Nói xong dẫn tất cả tộc nhân chạy về hướng bắc. Quần hào Trung Nguyên thấy những người Nữ Chân đó đến đi nhanh như gió thoảng, cực kỳ táo tợn nghĩ thầm: "Bọn người Phiên này còn ghê gớm hơn cả bọ Liêu cẩu, cũng may họ là bằng hữu của Kiều bang chủ, nếu không thì nguy to".

Các lộ nhân mã dần dần tụ lại một chỗ, bàn tán xôn xao về trận ác chiến dưới thành Nam Kinh mới rồi. Tiêu Phong cúi rạp tận đất nói:

- Đa tạ các vị đại nhân đại nghĩa, không nhớ chuyện ác cũ của Tiêu mỗ, nghỉn dăm bôn ba đến cứu, ân đức này Tiêu mỗ mãi mãi không thể nào báo đền nổi.

Huyền Độ nói:

- Kiều bang chủ nói thế là thế nào? Những chuyện ngày trước cũng đều vì hiểu lầm mà sinh ra cớ sự, võ lâm đồng đạo gặp nạn tương trợ cũng là chuyện đương nhiên. Huống chi Kiều bang chủ không nề sinh tử an nguy, từ bỏ vinh hoa phú quí cũng chỉ vì sinh linh bách tính Trung Nguyên, nhân đức ấy thấm nhuần thiên hạ, chúng tôi phải cảm ơn Kiều bang chủ mới phải.

Phạm Hoa lớn tiếng nói:

- Chúng vị anh hùng, tại hạ xem xét binh thế quân Liêu, e rằng họ chưa chịu thua đâu, thể nào cũng truy kích, không biết các vị có cao kiến gì không?

Quần hùng đồng thanh đáp ứng:

- Chúng tôi quyết cùng bọn Liêu binh một trận sống mái, há lại sợ chúng hay sao?

Phạm Hoa nói:

- Bên địch nhiều, bên ta ít, giao phong trên đồng bằng chúng ta quả thật bất lợi. Theo ý kiến tại hạ chúng mình nên lui về hướng tây, một là gần với nơi quân Tống trú đóng, có gì tiếp ứng lẫn nhau, hai nữa quân địch đuổi càng xa nhân số càng giảm đi, chúng ta có thể thừa cơ phản kích.

Quần hào ai nấy khen phải. Sau đó Hư Trúc dẫn bộ thuộc cung Linh Thứu đi thành một toán, Đoàn Dự dẫn binh mã Đại Lý đi một toán khác, còn Huyền Độ dẫn quần hào Trung Nguyên thành toán thứ ba, còn Tiêu Phong cùng bang chúng Cái Bang đoạn hậu. Bốn lộ nhân mã, mỗi đoàn cách nhau chừng vài ba dặm, thám tử cưỡi ngựa chạy tới chạy lui truyền tin, nếu có quân địch sẽ cứu ứng lẫn nhau. Đi suốt ngày hôm đó, buổi chiều ở nơi sơn dã nghỉ ngơi, đến tối cũng không thấy quân Liêu đuổi tới ai nấy mới yên tâm.

Sáng sớm hôm sau mọi người lại lên đường, Tiêu Phong hỏi A Tử:

- Vị Du quân kia có còn ở cung Linh Thứu nữa hay không?

A Tử bĩu môi nói:

- Ai mà biết? Chắc là còn, y mù hai mắt, làm sao xuống núi được?

Nghe giọng nàng dường như chẳng hề quan tâm đến y. Hôm đó cả bọn đến Bạch Lạc Bảo dưới chân Ngũ Đài Sơn, đào hố nấu cơm. Đi đến đâu Phạm Hoa cũng cắt đặt người mai phục khắp nơi, chặt cầu ngăn đường, để kéo dài thì giờ Liêu binh truy kích. Đến ngày thứ ba, bỗng thấy phía đông khói phân sói1 bay thẳng vút lên, chính là tín hiệu quân Liêu đang đuổi theo. Quần hào ai nấy giật mình, những hào kiệt trẻ tuổi đã toan quay lại trợ giúp những tiểu đội mai phục dọc đường, nhưng bị Huyền Độ, Phạm Hoa ngăn trở.

Đến chiều hôm đó, quần hào nghỉ lại một triền núi. Ngủ đến nửa đêm, bỗng có người kinh hoàng kêu lên khiến ai nấy tỉnh dậy, thấy phương bắc đỏ rực cả một góc. Tiêu Phong và Phạm Hoa hai người nhìn nhau, trong bụng thầm biết hẳn là có chuyện chẳng lành. Phạm Hoa nói nhỏ:

- Tiêu đại vương nghĩ có phải quân Liêu đi vòng qua giáp công chăng?

Tiêu Phong gật đầu. Phạm Hoa nói:

- Lửa lớn thế, không biết đốt mất bao nhiêu nhà của dân chúng? Than ôi!

Tiêu Phong không muốn kể xấu Gia Luật Hồng Cơ nhưng biết ngay lần này bị thua dưới tay người Nữ Chân, bao nhiêu tức tối trong lòng trút lên đầu bách tính, trên đường tiến quân tây chinh, gặp ai giết nấy, nhà cửa đốt sạch.

Lửa cháy mãi tới khi trời sáng cũng chưa tắt. Đến trưa hôm đó, phương nam cũng có lửa bốc lên, dưới ánh nắng chang chang không thấy lửa mà chỉ thấy khói mù mịt bốc lên tận mây. Đoàn của Huyền Độ vốn dĩ đi đầu thấy phương nam lửa bốc cao như thế liền gò cương đứng lại bên đường đợi Tiêu Phong tới nơi bèn hỏi:

- Kiều bang chủ, quân Liêu chia ba mặt tấn công, Nhạn Môn Quan liệu có giữ nổi không? Ta đã liên tiếp sai người chạy đến báo tin nhưng thống soái giữ ải nhu nhược, không dám phát binh sợ không chống nổi thiết kỵ Liêu binh.

Tiêu Phong không biết phải trả lời thế nào, Huyền Độ lại tiếp:

- Xem ra chỉ có người Nữ Chân là có thể chống lại quân Liêu, trong tương lai nếu như Đại Tống liên thủ với Nữ Chân, nam bắc giáp công thì may ra sẽ khiến cho thiết kỵ Khất Đan không tiến xuống nam thôi.

Tiêu Phong hiểu ý ông ta muốn mình tìm cách liên lạc với thủ lãnh Nữ Chân Hoàn Nhan A Cốt Đả nhưng nghĩ mình vốn là người Khất Đan, làm sao có thể cấu kết ngoại địch đánh lại nước mình. Ông đột nhiên nhớ ra hỏi lại:

- Huyền Độ đại sư, phụ thân tôi ở quí bảo sát có bình an không?

Huyền Độ ngạc nhiên nói:

- Lệnh tôn qui y tam bảo, thanh tu ở hậu viện chùa Thiếu Lâm, trước khi đi Nam Kinh chúng tôi không gặp lệnh tôn để khỏi làm động lòng trần của người.

Tiêu Phong nói:

- Tại hạ quả là muốn gặp gia gia, hỏi ông một câu.

Huyền Độ ồ lên một tiếng. Tiêu Phong nói:

- Tại hạ muốn thỉnh vấn lão nhân gia: Nếu như quân Liêu tiến đánh chùa Thiếu Lâm, thì phải xử trí thế nào?

Huyền Độ đáp:

- Thì phải hết sức kháng địch, hộ tự vệ pháp, còn gì khác nữa?

Tiêu Phong nói:

- Thế nhưng cha tôi là người Khất Đan làm sao có thể bảo ông ta vì người Hán mà giết người Khất Đan cho được?

Huyền Độ trầm ngâm rồi nói:

- Thì ra bang chủ quả thực là người Khất Đan. Bỏ chỗ tối ra chỗ sáng, quả là đáng kính đáng phục.

Tiêu Phong nói:

- Đại sư là người Hán thì nói Hán là sáng, Khất Đan là tối. Thế nhưng người Khất Đan chúng tôi thì lại bảo Đại Liêu là sáng, Đại Tống là tối. Nghĩ đến tổ tông người Liêu chúng tôi bị người Yết2 tàn sát, bị người Tiên Ti hiếp đáp, chạy đông chạy tây, khổ không kể đâu cho hết. Thời nhà Đại Đường, võ công người Hán các ông cực thịnh, giết không biết bao nhiêu dũng sĩ Khất Đan, bắt bao nhiêu đàn bà con gái Khất Đan. Đến bây giờ người Hán võ công không được như cũ thì người Khất Đan lại quay trở lại tấn công người Hán. Cứ như thế giết qua giết lại không biết đến bao giờ mới thôi?

Huyền Độ lặng thinh, qua một lúc mới niệm:

- A Di Đà Phật! A Di Đà Phật!

Đoàn Dự giục ngựa chạy đến, chỉ nghe được phần sau của câu chuyện giữa hai người bèn ngâm nga:

Lửa hồng kia chửa tắt,

Chinh chiến hẳn chưa nguôi.

Tráng sĩ giờ đây đã thác rồi,

Ngửng đầu tiếng ngựa hí bi ai.

Sĩ tốt phơi thây ngọn cỏ,

Tướng quân trơ trọi một ngươi.

Kên kên rỉa xác nơi đồng nội,

Cành khô vất vưởng ruột tanh hôi.

Than ôi!

Xưa nay binh lửa là hung khí,

Thánh nhân chẳng đặng mới dùng thôi.3

Tiêu Phong khen ngợi:

Xưa nay binh lửa là hung khí,

Thánh nhân chẳng đặng mới dùng thôi.

- Hiền đệ, ngươi làm thơ hay thật.

Đoàn Dự đáp:

- Không phải thơ đệ làm đâu, đó là của đại thi nhân Lý Bạch đời Đường đó.

Tiêu Phong nói:

- Ta ở đây cũng nghe người trong bộ tộc hát một khúc như vầy.

Nói xong ông cao giọng hát:

Núi Kỳ Liên đã mất rồi,

Trâu bò gia súc mệt nhoài kiếm ăn.

Gò Yên Chi cũng mất tăm,

Đàn bà con gái hom hem gầy mòn.4

Ông trung khí sung túc, tiếng hát vang vang mãi tận xa nhưng giọng đầy vẻ thê lương. Đoàn Dự gật đầu:

- Đó là điệu hát của người Hung Nô. Năm xưa Hán Võ Đế chinh phạt Hung Nô, cướp mất một phần lớn đất đai của họ, người Hung Nô khốn khổ đáng thương, chắc hẳn tiếng hát vẫn còn truyền đến tận ngày nay.

---

Tiêu Phong đáp:

- Tổ tiên người Khất Đan chúng ta thời đó cũng khổ chẳng khác gì người Hung Nô.

Huyền Độ thở dài một tiếng nói:

- Chỉ khi nào tất cả vua chúa tướng lãnh trong thiên hạ đều sùng tín Phật pháp, giữ lòng từ bi thì lúc đó mới hết được cái thảm cảnh chiến tranh.

Tiêu Phong đáp:

- Không biết đến năm nào tháng nào mới có được một thế giới thái bình như thế.

Cả đoàn người tiếp tục đi về hướng tây, thấy ba phía đông nam bắc chỗ nào cũng lửa đỏ rực, suốt đêm chưa tắt, quân Liêu vẫn đốt phá chém giết đuổi theo. Quần hùng trong dạ ai ai cũng phẫn nộ, luôn mồm chửi rủa, nguyện cùng quân địch một trận tử chiến. Phạm Hoa nói:

- Quân Liêu càng đuổi càng gần, cuối cùng rồi mình sẽ vào cảnh lui cũng không xong. Theo ý kiến của huynh đệ, chi bằng chúng ta phân tán ra khắp nơi khiến bọn chúng không biết hướng nào mà đuổi.

Ngô Trường Phong lớn tiếng nói:

- Thế thì có khác gì chịu thua? Phạm tư mã, ông chớ có làm tăng khí thế địch mà làm giảm uy phong mình, thắng cũng được mà thua cũng được, nhất quyết phải cùng bọn Liêu cẩu kia một mất một còn.

Còn đang nói chuyện đột nhiên nghe vút một tiếng, một mũi vũ tiễn từ góc đông nam bắn tới, một bang chúng Cái Bang trúng tên ngã xuống, kế đó từ sau núi một đội Liêu binh hò hét xông ra. Toán quân đột kích đó chừng độ năm trăm tên, vượt qua những người đoạn hậu, chạy một mạch theo đường tắt tấn công ngang hông. Ngô Trường Phong gào lên:

- Giết!

Y xông lên trước tiên. Quần hùng nén giận đã lâu, ai nấy hết sức chiến đấu, người đã đông hơn lại ai nấy võ nghệ cao cường, vừa la hét vừa chém giết thế như chặt dưa tàn sát quân Liêu, chỉ chừng nửa giờ hơn năm trăm lính Liêu đã bị giết không còn một mống. Độ hơn chục tên trèo núi bỏ trốn nhưng đều bị những hào kiệt khinh công cao cường đuổi theo giết nốt.

Quần hào đánh thắng một trận, reo hò vang dội, tinh thần phấn chấn. Phạm Hoa len lén thương nghị với Huyền Độ, Hư Trúc, Đoàn Dự:

- Chúng ta chỉ mới thắng được một đội nhỏ quân Liêu, một trận đánh rồi, đại quân Liêu sẽ đến ngay, mình mau chạy về hướng tây.

Nói chưa dứt lời đã nghe phía đông có tiếng ầm ầm vọng đến. Quần hào cùng quay sang thấy bụi bay mù mịt như một đám mây đang bốc lên che cả bầu trời. Chỉ trong khoảnh khắc, ai nấy mặt mày bần thần, không nói năng gì nữa, nghe tiếng rầm rầm chẳng khác gì sấm động truyền từ xa, hiển nhiên đại đội binh mã đang kéo tới, không biết bao nhiêu vạn người.

Quần hào đã từng chứng kiến chém giết nhiều lần nhưng đại quân tiến như thế này thì chưa từng nghe, so với cuộc chiến ngoài thành Nam Kinh quân Liêu đông không biết gấp bao nhiêu lần. Ai nấy tuy đều là những tráng sĩ lớn mật nhưng thấy quân uy chấn động đất trời đều không khỏi khiếp vía, toát mồ hôi lạnh.

Phạm Hoa kêu lớn:

- Chúng vị huynh đệ, địch nhân thế lớn, chết chỉ uổng mạng. Núi xanh vẫn còn đó, Không sợ thiếu củi đun. Hôm nay chúng ta tạm nhường chúng rồi tìm cách phản kích sau.

Quần hào lập tức lên ngựa, chạy về hướng tây nhưng tiếng rầm rầm vẫn đuổi theo không ngớt. Tối hôm đó mọi người không nghỉ ngơi, mỗi lúc thấy một gần Nhạn Môn Quan nên càng ra roi, biết rằng nếu qua được cửa ải rồi, cố găng thủ ngự, quân địch tuy đông nhưng phá được cửa quan cũng không phải dễ.

Trên đường ngựa liên tiếp ngã lăn ra chết, người thì thi triển khinh công, kẻ thì hai người cưỡi chung một con. Chạy đến khi trời sáng thì chỉ còn cách Nhạn Môn Quan chừng mươi dặm, ai nấy lúc ấy mới yên tâm, xuống ngựa cầm cương chậm rãi đi bộ để cho con vật lấy lại sức. Thế nhưng tiếng rầm rầm của binh mã đuổi theo đằng sau thì vẫn còn, mỗi lúc một thêm vang dội.

Tiêu Phong từ sơn lãnh trở xuống sườn núi bất chợt thấy một tảng đá lớn không khỏi giật mình nghĩ thầm: "Năm xưa Huyền Từ phương trượng, Uông bang chủ đã thống lãnh quần hào Trung Nguyên, phục kích cha ta, giết chết mẹ ta cùng không ít võ sĩ Khất Đan cũng là ở chỗ này". Ông nghiêng đầu nhìn thấy tên vách núi vẫn còn dấu búa bạt chữ đi, chính là nơi Huyền Từ xóa bỏ tự tích của Tiêu Viễn Sơn.

Tiêu Phong chậm rãi quay đầu lại, thấy bên cạnh thạch bích có một cây hoa, tai còn văng vẳng nghe tiếng A Châu nấp sau cây này nói:

- Kiều đại gia, ông còn đánh nữa, chắc ngọn núi này cũng sẽ đổ mất thôi.

Ông ngơ ngẩn, mấy câu nói nhu mì của A Châu vẫn còn vang vang trong đầu:

- Thiếp... thiếp ở đây chờ đại gia đã năm ngày năm đêm, chỉ sợ ông không đến. Ông... ông quả nhiên đến rồi, nhờ trời phù hộ nên ông vẫn khỏe mạnh bình thường.

Tiêu Phong nước mắt ròng ròng, đi đến bên cạnh, giơ tay xoa xoa thân cây thấy nay đã cao hơn khi ông gặp lại A Châu nhiều, nhất thời trong lòng thương cảm quên hết cả mọi sự chung quanh. Bỗng nghe có tiếng lảnh lót gọi:

- Tỉ phu! Mau chạy thôi! Chạy thôi!

A Tử chạy đến nắm áo Tiêu Phong. Tiêu Phong ngẩng đầu nhìn thấy ở xa xa đông nam bắc ba mặt trường mâu quân Liêu chĩa lên trời tua tủa như rừng, hiển nhiên đang vây mình lại. Tiêu Phong gật đầu nói:

- Được, mình lui vào trong Nhạn Môn Quan rồi tính sau.

Khi đó quần hào đã tụ tập ở trước cửa ải rồi. Tiêu Phong và A Tử cưỡi ngựa song song chạy đến nhưng cửa vẫn đóng chặt. Trên cửa quan một viên quan người Tống đứng trên đầu thành, lớn tiếng nói:

- Phụng mệnh Trương tướng quân chỉ huy sứ trấn thủ Nhạn Môn Quan có ra lệnh rằng: Các ngươi nếu là bách tính Trung Nguyên thì được nhập quan nhưng không biết có cấu kết với quân Liêu làm gian tế hay không, thành thử các ngươi vứt binh khí xuống để tra xét từng người. Nếu trên người không có dấu quân khí, Trương tướng quân sẽ khai ân, để cho các ngươi vào trong ải.

Câu nói vừa dứt, quần hào liền nhao nhao lên. Có người nói:

- Bọn ta nghìn dặm bôn ba, hết sức chống với quân Liêu, sao lại nghi làm gian tế là thế nào?

Có người nói:

- Bọn ta mang theo binh khí là để giúp tướng quân kháng Liêu. Nếu như không có binh khí trong tay thì làm sao đánh với quân Liêu được?

Gặp người tính tình nóng nảy táo tợn liền chửi ngay:

- Mẹ ngươi chứ, không mở cho ông vào hả? Tất cả tấn công vào bây giờ.

Huyền Độ vội vàng ngăn lại, quay sang gã quan quân nói:

- Phiền các hạ bẩm lại với Trương tướng quân: Chúng tôi đều là bách tính trung nghĩa của Đại Tống. Địch quân chớp mắt sẽ đến ngay, nếu còn tra xét thì sẽ mất thời giờ, khi đó cửa mở ra sẽ rất nguy hiểm.

Gã quan quân đã nghe có tiếng người chửi rủa, lại thấy quần hào không hiếm những người ăn mặc quái lạ, không giống nhân sĩ Trung Thổ bèn nói:

- Lão hòa thượng, ông bảo tất cả đều là lương dân Trung Thổ, ta xem nhiều người đâu phải dân Trung Quốc? Được rồi, ta mở cho một mặt lưới, người Đại Tống thì được vào ải, còn không phải dân Đại Tống thì không được vào.

Quần hào ngơ ngẩn nhìn nhau, ai nấy phẫn nộ. Bộ thuộc của Đoàn Dự là thần dân nước Đại Lý, còn bộ thuộc của Hư Trúc thì có đủ các bộ tộc, Tây Vực có, Tây Hạ có, Thổ Phồn có, Cao Ly có, nếu chỉ người Đại Tống mới được vào thì đại bộ phận của nước Đại Lý và cung Linh Thứu sẽ bị chặn lại. Huyền Độ nói:

- Tướng quân minh giám: Chúng tôi ở đây có rất nhiều đồng bạn, có kẻ là người Đại Lý, có kẻ là người Tây Hạ, tất cả liên thủ chống lại quân Liêu, đều là anh em cả, chứ đâu có phân biệt ai là người Tống, ai không?

Lần này Đoàn Dự dẫn bộ thuộc lên phương bắc giữ gìn cực kỳ bí mật, không tiết lộ mình là chủ một nước, để phòng đại thần Tống triều gia hại hay bắt giữ làm con tin, vả lại Đại Lý và Liêu quốc hai bên cách nhau xa thật nhưng cũng không muốn công khai đối địch nên Huyền Độ không đề cập đến việc Đại Lý có một nhân vật cực trọng yếu nơi đây.

Gãn quan quân kia khinh khỉnh nói:

- Nhạn Môn Quan là yết hầu của Đại Tống, quan trọng là dường nào? Đại đội binh mã quân Liêu sẽ tới ngay, nếu như ta tùy tiện mở cửa quan, Liêu binh thừa cơ xông vào, cái tội tày trời đó rồi sau này ai chịu cho?

Ngô Trường Phong không còn nhịn nổi nữa, lớn tiếng quát nạt:

- Ngươi bớt la lối một câu, mau sớm mở cửa, có phải mọi sự xong xuôi hay không?

Gã quan quân cáu tiết quát lại:

- Thằng ăn mày già kia, trước mặt bản quan, ai cho ngươi được mở mồm?

Y phất tay một cái, trên thành lập tức xuất hiện hơn nghìn cung thủ, cung tên giương sẵn, nhắm thẳng xuống dưới. Gã quan quân lại hét:

- Mau mau lui ra, các ngươi còn ở đây nói lời xằng bậy mê hoặc lòng người, nhiễu loạn lòng quân thì ta sẽ ra lệnh phát tiễn đó.

Huyền Độ thở dài một tiếng, không biết phải tính sao. Nhạn Môn Quan hai bên núi cao vút tận mây, cửa ải này có tên là Nhạn Môn, ý nói hồng nhạn khi bay về phương nam, cũng phải theo khe giữa hai ngọn núi mà bay đủ biết địa thế hiểm yếu dường nào. Quần hào tuy không hiếm kẻ khinh công cao cường có thể trèo non vượt lãnh nhưng phần đông không thể nào chạy được ắt sẽ bị quân Liêu giết chết.

Chỉ thấy quân Liêu đi theo đường núi từ hai mặt đông tây càng lúc càng khép lại dần cùng theo chính diện tiến tới. Thế nhưng ngoài tiếng vó ngựa, tiếng giáp sắt, tiếng gió thổi không nghe một tiếng hò reo nào, quân kỷ quả thực nghiêm minh, đúng là một quân lữ tinh nhuệ. Từng đội quân Liêu xếp thành trận thế ép tới cửa ải, tới khi trong tầm bắn tên rồi liền dừng lại. Nhìn ra ba phía đông tây bắc chỗ nào cũng cờ quạt phất phới, nhân mã không biết là bao nhiêu mà kể.

Tiêu Phong lớn tiếng nói:

- Các vị ở đâu tại đó không nên di động, chờ tại hạ phân giải với Liêu đế.

Ông không đợi Đoàn Dự, A Tử ngăn trở, đã một mình một ngựa chạy lên. Hai tay ông giơ cao khỏi đầu, ý cho biết không có binh khí cung tên, sang sảng cất tiếng:

- Tiêu Phong có vài lời muốn tâu lên Đại Liêu hoàng đế, xin bệ hạ ra mặt.

Mấy câu đó ông dùng nội lực truyền ra, thanh âm vang vọng tận xa, mấy vạn quân Liêu ai nấy đều nghe rõ ràng không khỏi biến sắc. Một hồi sau, từ trong quân Liêu tiếng tù và vang dậy, thiên quân vạn mã tựa như sóng bể dạt sang hai bên, tám lá cờ vàng do tám kỵ sĩ từ trong trận cầm chạy ra phần phật tung bay trước gió. Sau tám lá hoàng kỳ là những đội quân cầm trường thương, đao phủ, cung tên, thuẫn bài chia thành hai đội, cuối cùng mới đến mười đại tướng mặc giáp sắt bảo vệ Gia Luật Hồng Cơ tiến ra khỏi trận.

Quân Liêu liền hô to:

- Vạn tuế! Vạn tuế! Vạn vạn tuế!

Tiếng hô vang dậy chấn động cả sơn cốc. Quân Tống trên ải thấy uy thế Liêu binh không khỏi bàng hoàng. Gia Luật Hồng Cơ tay cầm bảo đao giơ cao, quân Liêu lập tức im bặt, trừ tiếng ngựa hí, không còn một tiếng nào khác. Gia Luật Hồng Cơ hạ bảo đao xuống, cười ha hả nói:

- Tiêu đại vương, ngươi bảo sẽ dẫn quân Liêu nhập quan, sao cửa ải chưa thấy mở?

Lời vừa nói ra, trên ải lập tức có người thông dịch lại cho viên quan trấn thủ nghe. Quan quân giữ thành lập tức huyên náo, chỉ mặt Tiêu Phong chửi bới ầm ĩ. Tiêu Phong biết là Gia Luật Hồng Cơ tính dùng kế ly gián, để quân Tống không mở cửa cho bên mình vào, trong lòng chua xót, lập tức nhảy xuống ngựa tiến lên mấy bước nói:

- Bệ hạ, Tiêu Phong này phụ bạc ân điển thâm hậu khiến cho hoàng thượng phải ngự giá thân chinh, quả là đáng chết.

Còn đang nói bỗng có hai bóng người lao vụt tới nhanh như ánh chớp, xông thẳng vào Gia Luật Hồng Cơ, chính là Hư Trúc và Đoàn Dự. Hai người thấy tình thế có chiều bất lợi, biết rằng việc ngày hôm nay chỉ còn cách bắt lấy Liêu đế để uy hiếp thì mới mong bảo trì được đại cục, ra dấu cho nhau rồi chia hai bên tiến vào.

Khi Gia Luật Hồng Cơ ra trận đã hờm trước đề phòng Tiêu Phong lại giở lối cũ bắt sống cha con Sở vương năm nào. Chỉ huy sứ đội thân binh liền quát lên một tiếng, hơn ba trăm tên lính cầm khiên lập tức tụ lại xếp thành một bức tường, chắn ngay trước mặt vua Liêu. Lính cầm trường mâu, lính cầm đao phủ cũng đứng xếp hàng khít khao ngay trước mặt đội thuẫn bài.

Thế nhưng Hư Trúc không phải còn như ngày trước, nay đã được chân truyền của Thiên Sơn Đồng Mỗ, lại từng nghiên cứu tất cả các võ học bí áo trên vách đá Linh Thứu Cung, võ công cao siêu tới mức tùy tâm sở dục. Đoàn Dự thì sau khi hút được trọn vẹn công lực một đời của Cưu Ma Trí, nội lực thâm hậu, cũng vào loại chấn cổ thước kim, thi triển Lăng Ba Vi Bộ thì làm sao quân sĩ nước Liêu ngăn nổi?

Đoàn Dự chẳng khác gì con chạch lách đông lượn tây, lẻn qua đám lính cầm giáo cầm đao khít khao chỉ cách chưa đầy một thước. Bọn lính cầm mâu đã không đâm trúng được Đoàn Dự lại vì quá gần nên vướng lẫn nhau, người nọ đụng phải người kia.

Hư Trúc liên tiếp vươn tay, chộp ngực chộp lưng quân Liêu, ném ra bên ngoài, càng lúc càng xông vào gần Gia Luật Hồng Cơ. Hai viên đại tướng giục ngựa xông ra, mũi thương cùng đâm vào ngực Hư Trúc. Hư Trúc đột nhiên nhảy vọt lên, hai chân chia ra đá vào đầu hai mũi giáo. Hai viên tướng Liêu cùng quát lên, rung thương một cái định chấn động cho Hư Trúc rớt xuống. Hư Trúc liền mượn ngay sức bật của ngọn giáo, nhảy vọt lên thêm một lần nữa, từ trên không nhảy bổ xuống đầu Hồng Cơ.

Một người thì trơn tuột như cá lượn, một người thì vùn vụt như chim bay, cùng tấn công khiến Gia Luật Hồng Cơ hoảng hốt, vung bảo đao lên chém vào Hư Trúc đang còn ở trên không. Tay trái Hư Trúc lập tức vươn ra, chộp được sống đao, thừa thế đang rơi cuộn lại bắt luôn cổ tay Liêu đế. Ngay lúc đó Đoàn Dự cũng đã vượt qua được rừng người, xông vào nắm được vai Gia Luật Hồng Cơ. Hai người cùng quát:

- Đi thôi!

Cả hai cùng đưa tay vật một cái đã lôi được thân thể cao to của y xuống khỏi lưng ngựa, quay đầu chạy ra. Quân Liêu bốn phía thấy hoàng đế bị bắt, kinh hãi la hoảng lên, nhất thời không biết phải làm thế nào. Mấy chục thân binh liều mạng xông lên cứu chúa đều bị Hư Trúc, Đoàn Dự đá văng ra xa.

Hai người bắt được Liêu đế rồi, trong bụng mừng rỡ đột nhiên thấy Tiêu Phong phi thân ra chặn lại, cùng kêu lên:

- Đại ca!

Ngờ đâu Tiêu Phong song chưởng đánh tới, vù vù hai tiếng chia ra tập kích hai bên. Hai người kinh hãi, thấy chưởng lực chẳng khác gì bài sơn đảo hải, đành phải giơ tay lên đỡ, bình bình bốn chưởng đụng nhau. Chưởng phong rung chuyển, Tiêu Phong tiến lên thừa thế nắm ngay Gia Luật Hồng Cơ.

Khi đó quân Liêu và quần hào Trung Thổ cũng đã từ hai bên ùa tới, một bên định cứu hoàng đế, một bên muốn tiếp ứng cho Tiêu Phong, Hư Trúc, Đoàn Dự.

Tiêu Phong quát lớn:

- Không ai được động đậy. Ta muốn nói chuyện với hoàng đế Đại Liêu.

Liêu quân và quần hào lập tức dừng lại, bên nào cũng sợ bên mình bị thương nên chỉ đứng xa xa hò hét không dám xung sát, cũng không ai dám buông tên. Hư Trúc và Đoàn Dự cũng đã lui ra ba bước, chia ra đứng sau lưng Gia Luật Hồng Cơ đề phòng y chạy trở về, đồng thời ngăn trở cao thủ Khất Đan xông lên cứu giá.

Gia Luật Hồng Cơ mặt cắt không còn giọt máu, nghĩ thầm: "Tiêu Phong này tính tình cực kỳ táo tợn, ta nhốt y vào chuồng sư tử, làm nhục y quá đỗi. Bây giờ rơi vào tay y rồi, chắc hẳn y sẽ báo thù không để cho ta sống sót". Bỗng nghe Tiêu Phong nói:

- Bệ hạ, hai người này là anh em kết nghĩa của thần, không làm hại bệ hạ đâu, hoàng thượng cứ yên tâm.

Gia Luật Hồng Cơ hừ một tiếng quay lại nhìn Hư Trúc, rồi quay sang nhìn Đoàn Dự. Tiêu Phong tiếp:

- Nhị đệ của thần là Hư Trúc, chủ nhân cung Linh Thứu, còn tam đệ là Đoàn công tử nước Đại Lý, vi thần đã từng tâu lên bệ hạ rồi.

Gia Luật Hồng Cơ gật đầu:

- Quả là giỏi thật.

Tiêu Phong nói:

- Chúng tôi sẽ thả bệ hạ về trận, chỉ mong bệ hạ ban thưởng cho.

Gia Luật Hồng Cơ tưởng chừng không tin vào tai mình nữa, nghĩ thầm: "Trên đời này sao lại có chuyện dễ dàng thế nhỉ? A, đúng rồi, Tiêu Phong đã hồi tâm chuyển ý, cầu ta phong cho ba người làm quan". Y đổi mặt tươi cười nói:

- Các ngươi cầu khẩn chuyện gì, ta tự nhiên không gì không thuận.

Y vốn dĩ giọng nói run run nhưng hai câu này đã trở lại vẻ tôn nghiêm của một hoàng đế. Tiêu Phong nói:

- Bệ hạ đã là tù binh của hai vị huynh đệ, cứ theo qui củ của người Khất Đan chúng ta, bệ hạ phải lấy tài hóa đem ra chuộc.

Gia Luật Hồng Cơ nhíu mày:

- Các ngươi muốn gì?

Tiêu Phong đáp:

- Vi thần mạo muội thay hai vị huynh đệ mở lời, chỉ xin kim khẩu bệ hạ bằng lòng thôi.

Hồng Cơ cười ha hả nói:

- Trên cõi đời này, những gì ta kiếm không ra chắc cũng chẳng nhiều, con mãnh sư kia cứ việc nói ra đi.

Tiêu Phong đáp:

- Chỉ xin bệ hạ bằng lòng lập tức thoái binh, trong đời bệ hạ không để một tên quân, một tên lính vượt qua biên giới Liêu Tống.

Đoàn Dự nghe nói hết sức hả dạ, nghĩ thầm: "Liêu quân không vượt biên giới Tống Liêu thì đâu có thể chắp cánh mà bay sang xâm phạm Đại Lý mình được". Chàng liền đáp ngay:

- Đúng thế, chỉ cần hoàng thượng đáp lời là chúng tôi sẽ thả về ngay.

Lại chợt nghĩ: "Bắt giữ hoàng đế nước Liêu, công lao nhị ca còn nhiều hơn ta, không biết y muốn gì?". Đoàn Dự liền quay sang hỏi Hư Trúc:

- Nhị ca muốn hoàng đế Khất Đan chuộc thân bằng gì?

Hư Trúc lắc đầu nói:

- Ta cũng chỉ muốn y bằng lòng điều đó thôi.

Khuôn mặt Gia Luật Hồng Cơ sầm xuống, trầm giọng hỏi:

- Các ngươi dám lớn mật uy hiếp ta sao? Nếu ta không bằng lòng thì thế nào?

Tiêu Phong dõng dạc nói:

- Nếu thế thì thần xin được cùng bệ hạ đồng qui ư tận, ngọc đá đều tan. Hai chúng ta năm xưa kết nghĩa đã từng có lời thề chỉ mong cùng năm, cùng tháng, cùng ngày chết chung với nhau.

Gia Luật Hồng Cơ chột dạ, nghĩ thầm: "Gã Tiêu Phong này không sợ trời, không sợ đất, là đồ vong mệnh, xưa nay nói một là một, hai là hai. Nếu như ta không chịu ắt thể nào cũng mạo phạm, chết dưới tay tên mãng phu này thì quả là uổng quá".

Y bèn cười ha hả lớn tiếng nói:

- Chỉ một mạng Gia Luật Hồng Cơ này mà đổi lấy mấy chục năm bình an của hai nước Tống Liêu. Hảo huynh đệ, ngươi coi mạng ta quả là đáng trọng.

Tiêu Phong đáp:

- Bệ hạ là chúa tể Đại Liêu, khắp thiên hạ còn gì quí trọng hơn được nữa?

Gia Luật Hồng Cơ lại cười nói:

- Nếu nói thế, năm xưa người Nữ Chân đòi ta ba mươi xe vàng, ba trăm xe bạc, ba nghìn tuấn mã thế là còn ít, phải không?

Tiêu Phong chỉ hơi khom lưng, không dám trả lời. Gia Luật Hồng Cơ quay đầu lại thấy tướng sĩ thủ hạ, kẻ gần nhất cũng phải cách mình đến hơn trăm bước, không cách nào có thể cứu mình thoát hiểm, tính toán hơn thiệt, trên đời này có gì quí hơn tính mạng, lập tức từ ống tên rút ra một mũi điêu vũ lang nha tiễn, hai tay bẻ gập lại, cắc một tiếng, gãy ra làm đôi, vứt xuống đất nói:

- Ta bằng lòng đó!

Tiêu Phong khom lưng đáp:

- Đa tạ bệ hạ.

Gia Luật Hồng Cơ quay người lại, cất bước toan đi thấy Hư Trúc và Đoàn Dự vẫn trừng trừng nhìn mình, không có vẻ gì muốn tránh ra nhường lối, quay lại nhìn Tiêu Phong, thấy ông cũng không nói năng gì, lập tức hiểu ra, biết ba người sợ mình sau này nuốt lời, lập tức rút phắt bảo đao giơ lên cao lớn tiếng nói:

- Ba quân Đại Liêu nghe đây!

Trong quân Liêu tiếng trống trận thúc lên rộn rã, vừa hết một hồi, lập tức ngưng lại. Gia Luật Hồng Cơ nói:

- Đại quân trở lại phương bắc, không tiếp tục nam chinh nữa.

Y ngừng lại một chút nói tiếp:

- Trong suốt đời ta sẽ không để một người lính của nước Liêu xâm phạm biên giới Đại Tống.

Y nói xong hạ đao xuống, tiếng trống trong quân lại nổi lên. Tiêu Phong khom lưng nói:

- Vi thần cung kính tiễn đưa bệ hạ về trận.

Hư Trúc và Đoàn Dự tránh sang hai bên, đi vòng ra sau lưng Tiêu Phong. Gia Luật Hồng Cơ vừa mừng vừa sợ, lại thêm hổ thẹn tuy muốn ra khỏi nơi hiểm địa cho mau nhưng không muốn để cho Tiêu Phong và quân Liêu thấy mình kém thế nên cố gắng trấn tĩnh, khoan thai trở về.

Trong đám quân Liêu có vài mươi thân binh phi ngựa chạy ra nghinh tiếp. Gia Luật Hồng Cơ lúc đầu bước đi còn chậm rãi nhưng càng lúc càng nhanh, chân lảo đảo dường như không còn hơi sức, tay run lẩy bẩy, mồ hôi trán tươm ra ròng ròng, khi thị vệ xuống ngựa dắt tọa kỵ của y đến thì Gia Luật Hồng Cơ người mềm như bún, chân trái đã đặt vào bàn đạp rồi mà không sao lên yên nổi. Hai tên thị vệ liền đỡ sau lưng, dụng lực nhấc bổng lên, Gia Luật Hồng Cơ mới lên ngựa được.

Quân Liêu thấy hoàng đế bình yên trở về, cùng cất tiếng reo hò:

- Vạn tuế! Vạn tuế! Vạn vạn tuế!

Khi đó binh lính người Tống trên Nhạn Môn Quan, quần hào ở dưới đã cùng nghe thấy Liêu đế hạ lệnh thoái binh, lại thề suốt đời không đem quân phạm giới, ai nấy hoan hỉ reo hò như sấm động. Mọi người đều biết người Khất Đan tuy hung tàn hiếu sát nhưng lại cực kỳ thủ tín, đã giao ước gì với Đại Tống rồi, rất hiếm khi nuốt lời, huống chi Liêu đế đứng trước trận tiền chính miệng hạ chỉ, ngày sau trở mặt thì dân chúng cùng bách quan trên dưới còn ai coi ông ta ra gì nữa, cái ngôi hoàng đế chưa chắc đã yên.

Gia Luật Hồng Cơ vẻ mặt uất hận, nghĩ thầm phen này mình bị Tiêu Phong bức bách, đáp lời một chuyện trọng đại như thế mới được yên thân trở về, thật không còn mặt mũi nào nữa, vô cùng tổn thương đến quốc uy nước Đại Liêu. Thế nhưng nghe tiếng hò reo vạn tuế của quân Liêu đầy vẻ chí thành, y đưa mắt nhìn khắp lượt sĩ tốt, thấy ai nấy mặt mày hớn hở, niềm vui lộ hẳn ra mặt.

Các sĩ tốt nghĩ đến mọi người lập tức ban sư, trở về đoàn viên cùng cha mẹ vợ con, không phải vạn dặm xa xôi chinh chiến, bỏ thân nơi xứ lạ quê người, mừng không sao kể xiết. Người Khất Đan tuy dũng mãnh thiện chiến, nhưng binh hung chiến nguy, ai dám chắc là mình không chết, hôm nay được miễn cái thảm họa này, ngoài một số tướng lãnh muốn chinh chiến để có dịp thăng quan phát tài, người người đều hoan hỉ.

Gia Luật Hồng Cơ trong dạ bàng hoàng: "Thì ra tướng sĩ của ta cũng chẳng mấy ai muốn tiến đánh Nam triều, nếu như xua binh nam chinh, chưa hẳn chỉ một trận đã toàn thắng". Y lại chợt nghĩ: "Cái bọn man tử Nữ Chân kia cực kỳ khả ố, để chúng ở sau lưng Khất Đan, thực là mối lo trong gan ruột, ta sẽ phái binh quét sạch chúng đi rồi tính sau". Y liền giơ bảo đao lên, cao giọng nói:

- Bắc Viện Đại Vương mau mau truyền lệnh, hậu đội biến thành tiền đội, ban sư Nam Kinh.

Trong quân tiếng kèn trống vang lừng, ngự chỉ truyền xuống, tiếng hò reo mới đầu ở gần dần dần truyền mỗi lúc một xa. Gia Luật Hồng Cơ quay đầu lại thấy Tiêu Phong vẫn còn đứng sừng sững tại chỗ cũ, cười khẩy một tiếng lớn tiếng nói:

- Tiêu đại vương, ngươi lập đại công cho Đại Tống như vầy, cao quan hậu lộc kể là nắm chắc trong tay rồi.

Tiêu Phong nói lớn:

- Bệ hạ, Tiêu Phong là người Khất Đan, hôm nay uy hiếp bệ hạ, thành đại tội nhân của nước Liêu, còn mặt mũi nào đứng trong trời đất?

Ông cúi xuống nhặt hai nửa mũi tên gãy, vận nội công vào, hai cánh tay giựt mạnh một cái, nghe phụp một tiếng cắm thẳng vào tim. Gia Luật Hồng Cơ kêu lên một tiếng kinh hoàng, giục ngựa chạy lên mấy bước nhưng lại gò cương dừng vó. Hư Trúc và Đoàn Dự hồn phi phách tán, cùng chồm tới kêu lên:

- Đại ca! Đại ca!

Thế nhưng hai nửa mũi lang nha tiễn đã cắm trúng tim, Tiêu Phong đôi mắt nhắm nghiền tắt thở rồi. Hư Trúc vội xé áo ông ra toan cứu chữa nhưng vết thương ở ngay tâm tạng không còn làm gì được nữa. Chỉ thấy trên ngực ông xâm hình một con thanh lang nhe răng, thần tình cực kỳ dữ tợn. Hư Trúc và Đoàn Dự khóc rống lên, phục xuống lạy.

Người trong Cái Bang cùng xông lên, vây quanh sì sụp, Ngô Trường Phong đấm ngực kêu than:

- Kiều bang chủ, tuy ông là người Khất Đan nhưng so với bọn người Hán vô dụng chúng tôi còn anh hùng gấp vạn lần.

Quần hào Trung Nguyên cũng xúm xít, có kẻ hạ giọng nghị luận:

- Kiều bang chủ quả thực là người Khất Đan sao? Thế sao ông ta lại quay sang tương trợ Đại Tống? Xem ra người Khất Đan cũng có anh hùng hào kiệt.

- Y từ nhỏ lớn lên với người Hán nên học được cái tính đại nhân đại nghĩa của người Hán.

- Hai nước bãi binh, ông ta trở thành một đại công thần hòa giải khó khăn, sao lại tự tìm cái chết nhỉ?

- Y tuy có công với Đại Tống nhưng ở nước Liêu thì thành tên giặc bán nước, phản quốc trợ địch, cho nên sợ tội tự sát.

- Cái gì mà sợ với chẳng không sợ? Kiều bang chủ anh hùng như thế, trên đời này còn sợ gì nữa?

Gia Luật Hồng Cơ thấy Tiêu Phong tự tận rồi, trong lòng hết sức hoang mang nghĩ thầm: "Y đối với Đại Liêu ta có công hay có tội? Y hết sức khuyên ta đừng phạt Tống, thế là vì người Tống hay vì người Khất Đan? Y cùng ta kết nghĩa anh em, trước sau đối với ta trung thành son sắt, hôm nay chết trước Nhạn Môn Quan, đâu phải vì tham cái công danh phú quí của Nam triều, thế ... thế là thế nào?". Y gượng nở một nụ cười, lắc đầu, quay ngựa đi thẳng vào đám Liêu binh.

Tiếng vó ngựa dồn dập trổi lên, hàng nghìn hàng vạn quân Liêu đi về hướng bắc. Tướng sĩ không ngừng quay đầu, ái ngại nhìn thi thể Tiêu Phong nằm dưới đất. Chỉ nghe tiếng quác quác, một đoàn hồng nhạn bay ngang trên đầu đại quân qua Nhạn Môn Quan.

Hư Trúc, Đoàn Dự tất cả mọi người đứng vây quanh xác Tiêu Phong, người thì khóc nức nở, kẻ ngậm ngùi âm thầm rơi nước mắt. Bỗng nghe tiếng một thiếu nữ lanh lảnh kêu lên:

- Tránh ra, tránh ra! Tất cả tránh cả ra! Các người làm chết tỉ phu của ta rồi, còn ở đây giả vờ khóc lóc để làm gì?

Nàng vừa nói vừa hết sức xô mọi người ra chen vào, chính là A Tử. Bọn Hư Trúc chẳng ai muốn tranh cãi với nàng, thấy vậy vội dạt ra. A Tử trừng trừng nhìn vào thi thể Tiêu Phong, ngẩn ngơ một hồi, dịu dàng nói:

- Tỉ phu ơi, tất cả mọi người đều xấu xa, chẳng nên chấp họ làm gì, chỉ có A Tử là thực bụng yêu thương tỉ phu thôi.

Nói xong cúi xuống ôm lấy xác Tiêu Phong bồng lên. Tiêu Phong thân thể cao to, nửa trên cô gái kéo lên được nhưng hai chân vẫn lệt xệt dưới đất. A Tử lại tiếp:

- Tỉ phu bây giờ mới thực là ngoan, thiếp ôm chàng, chàng không đẩy thiếp ra. Phải thế chứ, thế mới là hay chứ.

Hư Trúc và Đoàn Dự hai người nhìn nhau nghĩ thầm: "Nàng thương tâm quá đỗi, xem ra thần trí thất thường". Đoàn Dự sụt sùi nói:

- Tiểu muội, Tiêu đại ca khẳng khái tựu nghĩa, người chết không thể nào sống lại được, em ... em ...

Chàng tiến đến toan đỡ lấy xác Tiêu Phong. A Tử sừng sộ gắt lên:

- Anh đừng đến đây cướp tỉ phu của tôi, anh ấy là của tôi, không ai được đụng đến.

Đoàn Dự quay đầu nháy mắt với Mộc Uyển Thanh. Mộc Uyển Thanh hiểu ý đi đến bên cạnh A Tử, dịu dàng nói:

- Tiểu muội tử, Tiêu đại ca qua đời, chúng mình bàn chuyện chôn cất anh ấy ra sao...

A Tử đột nhiên rú lên lanh lảnh khiến Mộc Uyển Thanh giật nảy người vội nhảy ngược trở ra. A Tử thét:

- Cút ra, cút ra ngay! Ngươi còn đến gần là ta một kiếm đâm chết tươi.

Mộc Uyển Thanh chau mày nhìn Đoàn Dự lắc đầu. Bỗng từ trong dãy núi bên cạnh cửa ải có tiếng người gọi:

- A Tử, A Tử, ta nghe thấy tiếng cô rồi, cô nương ở đâu đó? Cô nương ở đâu đó?

Giọng nói cực kỳ thê thảm, một số đông nhận ra đó là tiếng của Du Thản Chi, người giả tên Trang Tụ Hiền cũng là bang chủ Cái Bang. Mọi người quay qua nhìn về phía có tiếng nói, thấy Du Thản Chi hai tay cầm hai cây gậy trúc, gậy bên trái dò đường, gậy bên phải móc vào vai một hán tử trung niên, từ thung lũng đi lên. Người đàn ông trung niên kia chính là kẻ được chỉ định ở lại giữ Linh Thứu Cung Ô Lão Đại. Chỉ thấy y hình dung tiều tụy, áo quần rách rưới, thần tình ra chiều cam chịu, bọn Hư Trúc thoạt nhìn đã biết ngay Du Thản Chi ép y phải dẫn đi tìm A Tử, trên đường hẳn phải chịu nhiều đắng cay.

A Tử giận dữ đáp:

- Ngươi đến đây làm chi? Ta không muốn thấy ngươi, ta không muốn gặp ngươi.

Du Thản Chi vui mừng nói:

- A, quả nhiên cô nương ở đây, tôi nghe được tiếng cô nương rồi, sau cùng rồi cũng kiếm được cô nương.

Gậy bên phải vận kình đẩy một cái, Ô Lão Đại không tự chủ chạy vọt về phía trước. Hai người chạy thật nhanh, chỉ trong khoảnh khắc đã đến trước mặt A Tử. Hư Trúc và Đoàn Dự còn chưa biết tính sao, thấy Du Thản Chi cùng nghĩ thầm người này cam nguyện đem hai mắt tặng cho A Tử, có liên hệ với nàng cực kỳ sâu xa, may ra có thể khuyên giải cô gái, liền lùi lại mấy bước để mặc hai người trò truyện với nhau. Du Thản Chi nói:

- A Tử cô nương, cô khỏe chứ? Có ai coi rẻ cô nương không?

Trên khuôn mặt xấu xí hiện lên một nét tươi vui, lại ra chiều quan thiết. A Tử đáp:

- Nếu có người coi thường ta thì ngươi làm gì được họ?

Du Thản Chi vội đáp:

- Kẻ nào dám đắc tội với cô nương? Cô nương mau bảo tôi, tôi sẽ thí mạng với hắn.

A Tử cười nhạt một tiếng, chỉ vào mọi người đứng chung quanh nói:

- Tất cả bọn họ ai ai cũng khinh khi ta, ngươi giết sạch họ đi xem nào.

Du Thản Chi đáp:

- Vâng!

Y hỏi Ô Lão Đại:

- Lão Ô, ai là kẻ đắc tội với cô nương?

Ô Lão Đại đáp:

- Đông người lắm, ngươi giết không hết đâu.

Du Thản Chi đáp:

- Giết không hết cũng cứ giết, ai bảo họ dám đắc tội với cô nương.

A Tử bực tức nói:

- Ta hiện nay ở chung với tỉ phu, vĩnh viễn không bao giờ ngăn cách. Ngươi mau mau cút cho xa, ta không muốn thấy mặt ngươi nữa.

Du Thản Chi hết sức đau lòng, lắp bắp:

- Cô ... cô nương không còn muốn gặp tôi ...

A Tử cao giọng đáp:

- À, phải rồi, mắt ta là do ngươi tặng cho. Tỉ phu bảo là ta còn nợ ngươi một mối ân tình, bảo ta phải tử tế với ngươi, ta nghe thế không vui chút nào.

Nàng nói tới đây đưa tay phải lên đâm luôn vào mắt mình, đã móc được đôi con ngươi, hết sức ném vào Du Thản Chi kêu lên:

- Trả ngươi đó! Trả ngươi đó! Từ nay về sau, ta chẳng còn nợ nần gì ngươi nữa. Có thế tỉ phu ta mới khỏi ép ta, bảo ta phải đi theo ngươi.

Du Thản Chi tuy không nhìn thấy gì nhưng nghe tiếng người chung quanh la hoảng, thanh âm đầy vẻ hoảng hốt, biết ngay đã có đột biến, nghẹn ngào nói:

- A Tử cô nương! A Tử cô nương!

A Tử ôm xác Tiêu Phong, nhỏ nhẹ nói:

- Tỉ phu, chúng mình chẳng còn nợ nần ai điều gì. Hồi trước thiếp dùng độc châm bắn chàng, chỉ vì muốn chàng mãi mãi ở cạnh em, hôm nay quả đã được như tâm nguyện.

Nói xong lệt sệt ôm xác Tiêu Phong bước đi. Quần hào thấy máu từ đôi mắt nàng chảy ròng ròng trên khuôn mặt trắng bệch không khỏi kinh hãi nên đi đến đâu mọi người tránh ra đến đó. Chỉ thấy cô gái đi thẳng về phía sơn cốc ở bên sườn núi. Mọi người ai nấy kêu lên:

- Dừng lại! Dừng lại! Trước mặt là vực sâu.

Đoàn Dự phi thân chạy tới kêu lên:

- Tiểu muội, em ...

Thế nhưng A Tử càng chạy nhanh hơn, đột nhiên chân đạp hẫng vào chỗ không, nhào người xuống vực sâu vạn trượng. Đoàn Dự giơ tay ra nắm lại, soẹt một tiếng chỉ nắm được chút vạt áo, đột nhiên bên cạnh có tiếng gió gấp gáp, ai đó đã bổ nhào tới, vội vàng nghiêng qua thấy Du Thản Chi cũng đã lao theo. Đoàn Dự kêu lên:

- Ối trời!

Chàng đưa mắt nhìn xuống chỉ thấy mây mù bao phủ, không biết vực núi sâu tới đâu. Quần hào đứng bên sơn cốc, ai nấy ngậm ngùi thở dài, người võ công hơi kém thấy vách đá đầy những đá tai mèo lởm chởm, nhọn hoắt như dao, không khỏi kinh tâm.

Những người tuổi cao như Huyền Độ, nhớ lại năm xưa Huyền Từ, Uông bang chủ phục kích võ sĩ Khất Đan ngoài Nhạn Môn Quan, biết mẫu thân Tiêu Phong cũng chết ở ngay cái vực này.

Bỗng nghe từ trên ải tiếng trống đánh thì thùng, gã quan quân kia lại lớn tiếng nói:

- Phụng đô chỉ huy sứ trấn thủ Nhạn Môn Quan truyền tướng lệnh: Các ngươi quả không phải là gian tế nước Liêu nên đặc biệt cho nhập quan nhưng phải an phận giữ gìn, không được ồn ào, nhất mực tuân thủ phép nước.

Quần hào đứng dưới liền nhao nhao chửi rủa:

- Bọn ta thà chết chứ không đi qua cái cửa ải do tên quan chó má kia trấn giữ.

- Nếu chẳng vì tên cẩu quan khiếp nhược kia thì Tiêu đại hiệp đâu có đến nỗi phải chết.

- Tất cả xông vào giết quách tên chó má kia đi!

Mọi người hung hăng chỉ vào cửa ải, hoa tay dậm chân không tiếc lời. Hư Trúc, Đoàn Dự cúi xuống vực sâu lạy mấy lạy, sau đó vượt qua núi mà đi.

Gã trấn thủ Nhạn Môn Quan thấy quần hào uy thế dũng mãnh vội đổi lệnh đóng chặt cửa không cho ai vào nữa, đợi cho mọi người chán lời, bỏ đường cái trèo qua núi xuôi nam cả rồi lúc ấy mới yên lòng. Y lập tức viết biểu báo tin thắng trận, cho khoái mã đưa về Biện Lương, nói là đích thân thống lãnh bộ hạ tướng sĩ, huyết chiến mấy ngày với hơn một chục vạn quân Liêu, nhờ hồng phúc tề thiên của hoàng thượng cùng chỉ bảo đúng đắn của đại thần trong triều nên đã xả thân giết được đại tướng nước Liêu là Nam Viện Đại Vương Tiêu Phong cùng mấy nghìn quân địch, Liêu chúa Gia Luật Hồng Cơ phải cụp đuôi chạy dài.

Tống đế Triệu Hú nhận được biểu hết sức mừng rỡ, truyền chỉ khao thưởng quân sĩ đóng ở chung quanh cửa quan, từ chỉ huy sứ trở xuống ai ai cũng được thăng quan tấn tước. Triệu Hú tự cho mình là anh minh vũ dũng, vượt xa Thái Tổ Thái Tông, ngày đêm cùng triều thần yếm ẩm, hoan lạc với các phi tần ở hậu cung, tiếng ca công tụng đức nghe đầy cả tai, biểu văn khánh chúc đại thắng gửi về nườm nượp.

* * *

Đoàn Dự cùng Hư Trúc, Huyền Độ, Ngô trưởng lão và quần hùng chia tay rồi liền cùng Mộc Uyển Thanh, Chung Linh, Hoa Hách Cấn, Phạm Hoa, Ba Thiên Thạch, Chu Đan Thần trở về Đại Lý. Vào đến quốc cảnh, Vương Ngữ Yên và thị vệ võ sĩ Đại Lý đã ra tận biên giới nghênh tiếp, nghe Đoàn Dự kể lại tình trạng Tiêu Phong và A Tử ai nấy đều ngậm ngùi. Cả đoàn về nam, Đoàn Dự không muốn kinh động bách tính nên truyền lệnh không mặc sắc phục bách quan, ra đi thế nào cứ để nguyên như thế mà lên đường.

Hôm đó về đến kinh thành, Đoàn Dự muốn lên chùa Thiên Long để bái kiến Khô Vinh đại sư và bá phụ Đoàn Chính Minh nhưng trời đã sắp tối mà còn cách chùa đến hơn sáu mươi dặm, đành phải kiếm chỗ nghỉ ngơi. Bỗng nghe trong rừng có tiếng trẻ con reo lên:

- Bệ hạ! Bệ hạ! Chúng tôi lạy bệ hạ rồi, sao bệ hạ không cho kẹo?

Mọi người nghe thế ai nấy đều ngạc nhiên: "Sao lại có người nhận ra được hoàng thượng nhỉ?". Cả bọn tiến vào xem xét, nghe thấy trong rừng có người nói:

- Các ngươi phải xướng: Nguyện ngô hoàng vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế, thế mới có kẹo.

Tiếng nói đó cực kỳ quen thuộc, chính là Mộ Dung Phục. Đoàn Dự và Vương Ngữ Yên hoang mang, vội nắm lấy tay nhau, nép vào sau gốc cây, nhìn về phía có thanh âm, thấy Mộ Dung Phục ngồi trên một cái gò đất, đầu đội mũ giấy cao nghệu, thần sắc nghiêm trang.

Bảy tám đứa trẻ con nhà quê quì trước đống đất, lao xao nhắc lại:

- Nguyện ngô hoàng vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế!

Bọn chúng vừa chúc tụng rầm rĩ vừa lạy như tế sao, có đứa thò tay giục:

- Cho kẹo đi, cho bánh đi!

Mộ Dung Phục đáp:

- Chư khanh bình thân, trẫm đã hưng phục được Đại Yên, lên ngôi đại bảo rồi, mọi người ai cũng được phong thưởng.

Bên cạnh gò đất một cô gái đứng ủ rũ, chính là A Bích. Nàng mặc một chiếc áo dài màu xanh lợt, khuôn mặt xinh xắn nhuốm vẻ tiều tụy buồn rầu, lấy kẹo bánh từ trong một chiếc giỏ, chia cho đám trẻ con miệng nói:

- Các cháu ngoan lắm, mai ra chơi nữa, lại được kẹo được bánh.

Giọng nàng nghẹn ngào, mấy giọt nước mắt lã chã rơi trên giỏ tre. Bọn trẻ con vỗ tay reo hò giải tán cùng nói:

- Mai lại ra nữa!

Vương Ngữ Yên biết rằng biểu ca thần trí đã thất thường, cái mộng đế vương càng lúc càng sâu, không khỏi bùi ngùi. Đoàn Dự nhìn thấy thần tình A Bích như thế, nỗi thương xót dâng tràn, định lên tiếng gọi nàng và Mộ Dung Phục cùng về Đại Lý để tính đường sắp xếp cho ổn thỏa nhưng thấy cô gái nhìn Mộ Dung Phục hết sức nhu tình, còn Mộ Dung Phục thì mặt mày đầy vẻ đắc ý thỏa mãn, trong bụng bàng hoàng: "Mỗi người có một duyên pháp khác nhau, Mộ Dung huynh và A Bích như thế này, với người khác thì thấy họ đáng thương, có biết đâu trong lòng họ lại hết sức hoan lạc không chừng? Ta việc gì phải lắm chuyện?". Chàng nhẹ nhàng cầm tay áo Vương Ngữ Yên ra hiệu.

Mọi người lặng lẽ lui ra. Chỉ thấy Mộ Dung Phục ngồi chễm chệ quay mặt về hướng nam, miệng vẫn lảm nhảm không thôi.

Hết.


Chú thích:

Bắt đầu dịch 4/2001
Dịch xong 4/2003

1 Lang yên: phân chó sói khi đốt khói bốc lên cao, ngày xưa dùng để làm tín hiệu báo động

2 một giống Hung Nô

3 Phong hỏa nhiên bất tức,
Chinh chiến vô dĩ thời.
Dã chiến cách đấu tử,
Bại mã hiệu minh hướng thiên bi. Điểu diên trác nhân trường,
Xung phi thượng quải khô chi thụ.
Sĩ tốt đồ thảo mãng,
Tướng quân không nhĩ vi.
Nãi tri binh giả thị hung khí,
Thánh nhân bất đắc dĩ nhi dụng chi.

4 Vong ngã Kỳ Liên sơn,
Sử ngã lục súc bất phiên tức.
Vong ngã Yên Chi sơn,
Sử ngã phụ nữ vô nhan sắc.

Thiên Long Bát Bộ 48 : Tệ Tỉ Vinh Hoa, Phù Vân Sinh Tử, Thử Thân Hà Cụ

Giàu sang phú quí mà chi, Xem như dép cũ bỏ đi cho rồi.
Cuộc đời mây nổi ai ơi, Đến như sống chết đã coi ra gì.


Trong hoàng cung Đại Lý, Đoàn Chính Minh truyền ngôi cho cháu là Đoàn Dự, dặn dò phải biết ái dân, nạp gián, lại nhắn nhủ việc nước không được bừa bãi làm càn, dấy động binh đao. Cũng vào thời kỳ đó, nơi kinh đô Biện Lương nhà Đại Tống, trong hoàng cung ở hậu các Sùng Khánh điện, thái hoàng thái hậu Cao thị bệnh nặng, đang trăn trối cho cháu là Triệu Hú(1) :

- Hài nhi, tổ tông sáng nghiệp thật gian nan vất vả, nhờ phúc trạch ông cha thâm hậu nên mới có cảnh tượng thái bình như ngày hôm nay. Thế nhưng cha ngươi khi trị nước để cho dân tình sôi sục, suýt nữa gây ra đại biến, đến giờ trăm họ nghĩ đến còn kinh, ngươi có biết vì do đâu chăng?

Triệu Hú đáp:

- Hài nhi thường nghe nãi nãi2 nói rằng, phụ hoàng nghe lời Vương An Thạch, sửa đổi phép tắc cũ khiến cho dân chúng không đủ sống.

Khuôn mặt khô héo của thái hoàng thái hậu hơi rung động, thở dài nói:

- Vương An Thạch là người có học vấn, có tài năng, vốn không phải là kẻ xấu. Dụng tâm tuy là vì nước vì dân, có điều ... ôi ... chỉ bởi cha ngươi, vốn dĩ tính tình nóng nảy, chỉ mong sao chóng thành công, có biết đâu việc trên đời này dục tốc tắc bất đạt, thành ra rối loạn hỏng việc.

Bà lão nói đến đây ho sù sụ một hồi rồi mới tiếp:

- Thứ đến ... thứ đến y không bao giờ muốn nghe câu nào trái tai, chỉ thích người ngoài ca công tụng đức, gọi y là thánh minh thiên tử y mới vui lòng, còn như bảo y sai lầm không đúng, can gián một câu thì lập tức nổi cơn lôi đình, kẻ thì bãi chức, người thì đi đày, cứ như thế, còn ai dám trực ngôn can gián nữa?

Triệu Hú đáp:

- Bà ơi, tiếc thay di chí của phụ hoàng chưa thành, bao nhiêu lương pháp mỹ ý của tiên đế đều bị kẻ tiểu nhân làm hỏng cả.

Thái hoàng thái hậu hoảng hốt, run rẩy hỏi lại:

- Cái ... cái gì mà lương pháp mỹ ý? ... Ai ... ai là tiểu nhân?

Triệu Hú đáp:

- Phụ hoàng đặt ra phép thanh miêu, phép bảo mã, phép bảo giáp ... chẳng phải là phú quốc cường binh lương pháp thì là gì? Chỉ hận bọn hủ nho Tư Mã Quang, Lã Công Trứ, Tô Thức làm hỏng đại sự.

Thái hàng thái hậu biến sắc, chống tay cố ngồi lên nhưng đã suy nhược quá rồi, thân hình chỉ nhỏm lên được một hai tấc rồi không gượng nổi nữa, ho sù sụ. Triệu Hú nói:

- Bà nội đừng tức tối, hãy nằm xuống nghỉ đi, sức khỏe mới là quan trọng.

Tuy miệng y thì khuyên bảo như thế nhưng giọng điệu chẳng có chút nào thân cận. Thái hoàng thái hậu ho một hồi, tạm bình tĩnh lại nói:

- Hài nhi, cháu làm hoàng đế cũng đã chín năm rồi, thế nhưng trong chín năm đó ... trong chín năm đó, người làm vua đích thực là bà nội đây, chuyện gì cháu cũng nghe lời bà mà làm, trong bụng ... trong bụng cháu chắc tức tối lắm, ghét bà lắm, có phải không?

Triệu Hú đáp:

- Bà nội làm hoàng đế giùm cháu, ấy là thương cháu chứ, sợ cháu làm hỏng việc đấy thôi. Dùng người cũng bà dùng, thánh chỉ cũng bà đưa xuống, hài nhi thật là rảnh rỗi, có gì không thích đâu? Sao cháu lại trách bà được?

Thái hoàng thái hậu thở hắt ra, khẽ nói:

- Mày thật giống cái thằng cha mày, cứ cho là mình thông minh tài trí phải làm nên một đại sự nghiệp. Trong bụng ngươi ghét ta lắm, không lẽ ... không lẽ ta lại không biết hay sao?

Triệu Hú mỉm cười khinh khỉnh nói:

- Bà nội chuyện gì chẳng biết. Trong cung ngự lâm quân cũng là người thân tín của bà, chỉ huy nội thị thái giám cũng là tâm phúc của bà, trong triều văn võ đại thần cũng do bà sắp đặt. Hài nhi ngoài việc ngoan ngoãn nghe lời bà dặn bảo ra, có dám tùy tiện làm gì đâu, có dám nói gì đâu?

Thái hoàng thái hậu nhìn lên đình màn nói:

- Ngươi ngày ngày mong mỏi chuyện hôm nay, chờ tới khi ta bệnh chết rồi, lúc đó ... lúc đó mới tha hồ mặc sức bay nhảy.

Triệu Hú đáp:

- Chuyện gì cũng do bà ban cho hài nhi, trước đây nếu không có bà nội chủ trì, khi phụ hoàng băng giá, triều đình nếu chẳng lập Ung Vương thì cũng lập Tào Vương. Ơn sâu của bà nội, hài nhi đâu thể nào quên được? Có điều ... có điều...

Thái hoàng thái hậu nói:

- Có điều cái gì? Ngươi muốn nói gì thì cứ nói ra, sao lại còn ấp úng mãi thế?

Triệu Hú đáp:

- Hài nhi từng nghe người ta nói rằng, sở dĩ bà muốn lập cháu lên làm vua, chỉ vì hài nhi còn nhỏ, có thế mới dễ cho bà tự mình đảm trách việc triều chính.

Y thu hết can đảm nói được câu đó ra, tim đập thình thình, nhìn trộm ra ngoài cửa mấy lượt, thấy những thái giám canh gác ngoài điện môn đều là người tâm phúc của mình, thủ vệ nghiêm mật, thế mới yên tâm.

Thái hoàng thái hậu chậm rãi gật đầu nói:

- Ngươi nói quả không sai. Ta quả muốn chính mình cai trị quốc gia, trong chín năm qua ta làm việc ra thế nào?

Tây Hạ lấy trong túi ra một cuộn giấy nói:

- Bà ơi, những lời ca công tụng đức của văn sĩ trong triều ngoài nội, trong chín năm qua không biết là bao nhiêu, chắc bà nghe đã phát chán rồi. Hôm nay ở phương bắc có người xuống đây, nói rằng tể tướng nước Liêu có một bản tấu chương dâng lên Liêu đế, có đề cập đến việc thi hành chính sách của bà nội. Đây là nghị luận của đại thần nước Liêu, nãi nãi có muốn nghe không?

Thái hoàng thái hậu thở dài:

- Cả thiên hạ khen thì cũng thế mà cả thiên hạ chê thì cũng vậy, lão ... lão thân chắc chẳng sống được tới chiều nay đâu. Ta ... ta chẳng biết có còn thấy mặt trời mọc ngày mai nữa không? Tể tướng Liêu quốc ... y ... y nói về ta thế nào?

Tây Hạ mở cuốn trục ra nói:

- Trong tấu chương gã tể tướng đó nói thái hoàng thái hậu: Từ khi ở sau rèm đến nay3, tuyển dụng danh thần, bãi bõ chính sách hà khắc của tân pháp, trông coi triều chính chín năm qua, triều đình sáng sủa, Hoa hạ yên ổn. Ngăn chặn các thăng thưởng vô lối, bãi bỏ các ân sủng cho người nhà, các tấu chương trình lên, lớn nhỏ đều coi xét kỹ lưỡng, suốt đời không tơ hào một li ...

Y đọc đến đây, ngừng lại một chút, thấy ánh mắt lờ đờ của thái hoàng thái hậu lóe lên một vẻ phấn khởi, liền đọc tiếp xuống:

- ... người đời gọi bà ta là nữ trung Nghiêu Thuấn!

Thái hoàng thái hậu lẩm bẩm:

- Người đời gọi là nữ trung Nghiêu Thuấn! Người đời gọi là nữ trung Nghiêu Thuấn! Dù có thực là Nghiêu Thuấn chăng nữa thì cũng không thể không chết.

Đột nhiên trong đầu óc mỗi lúc một mơ hồ chậm lụt của bà nảy ra một điểm linh quang, bèn hỏi:

- Tại sao tể tướng nước Liêu lại nhắc đến ta? Hài nhi, cháu ... cháu phải lưu tâm, bọn họ biết ta chết rồi là sẽ chèn ép cháu ngay.

Trên khuôn mặt non trẻ của Triệu Hú lộ vẻ kiêu ngạo nói:

- Định chèn épcháu ư? Hừ, đúng thế đấy nhưng chắc không phải dễ đâu. Bọn Khất Đan có thám tử ở Đông Kinh, biết nãi nãi đang bệnh nặng, bộ mình không có người dò thám ở Thượng Kinh hay sao? Tấu chương của tể tướng bọn chúng mình chả có trong tay là gì? Quân dân Khất Đan bàn tính, một khi bà ... một khi bà thiên thu vạn tuế rồi, nếu như văn võ đại thần không có gì thay đổi, không thi hành tân pháp, bảo vệ bờ cõi, nhân dân yên ổn thì không sao. Còn như nếu hài nhi ... hà hà ... có gì làm ẩu làm liều ... khinh suất vọng động, thì bọn chúng cũng lớn mật làm càn một phen.

Thái hoàng thái hậu hoảng hốt hỏi:

- Họ định sẽ xua quân xuống phương nam ư?

Tây Hạ đáp:

- Đúng vậy.

Y quay người đi ra phía cửa sổ, nhìn theo cái cán chòm sao Bắc đẩu thấy ngôi đế tọa lấp lánh trên bầu trời, lẩm bẩm nói một mình:

- Đại Tống ta binh tinh mã nhuệ, lương thảo đầy đủ, dân số lại đông, lẽ nào lại sợ bọn Khất Đan? Bọn chúng không đem quân xuống nam thì ta cũng xua quân lên bắc thử một keo cho biết.

Thái hoàng thái hậu tai nghễnh ngãng nghe không rõ hỏi lại:

- Ngươi nói gì? Cái gì mà thử một keo cho biết?

Triệu Hú đi đến bên giường bệnh nói:

- Nãi nãi, người Đại Tống chúng ta so với người Liêu đông gấp mười, lương thảo gấp ba mươi lần, có phải thế không? Lấy mười chọi một, không lẽ đánh không lại chúng sao?

Thái hoàng thái hậu run run hỏi:

- Ngươi định gây chiến với nước Liêu chăng? Chân Tông hoàng đế năm xưa anh vũ là dường nào, ngự giá thân chinh vậy mà còn phải lập minh ước Thiền Uyên, ngươi ... ngươi lẽ nào lại dám tính chuyện đao binh?

Triệu Hú hậm hực đáp:

- Bà vẫn cứ coi thường hài nhi, cứ coi cháu như đứa trẻ miệng còn hơi sữa, chẳng biết chuyện gì. Hài nhi tuy không bằng vua Thái Tổ, Thái Tông nhưng chưa chắc đã kém gì Chân Tông hoàng đế!

Thái hoàng thái hậu nói nhỏ:

- Đến như Thái Tông hoàng đế, năm xưa cũng còn thua Bắc quốc, trọng thương phải quay về, vết thương không khỏi nên chính vì thế mà băng hà.

Triệu Hú nói:

- Chuyện trong thiên hạ, đâu phải cứ có một bề mà luận. Trước kia mình đánh không lại bọn Khất Đan đâu phải mãi mãi lúc nào cũng thua.

Thái hoàng thái hậu có biết bao nhiêu điều muốn nói, nhưng thấy tinh lực càng lúc cào hao kiệt dần, trước mắt chỉ thấy một quầng mây trắng bay qua bay lại, trong óc trống rỗng, nói năng đã cực kỳ gian nan nhưng trong đáy lòng bà ta vẫn có một tiếng nói hết sức rõ ràng vọng lên: "Việc

chiến tranh là nguy hiểm, sinh linh đồ thán, nhất quyết không thể khinh suất làm càn".

Một lúc sau bà ta mới lấy hơi, chậm rãi nói:

- Hài nhi, trong chín năm qua ta nắm hết đại quyền, chưa từng cùng ngươi phân tích cho rõ ràng, nãi nãi quả là thiếu sót. Ta vẫn tưởng mình chắc còn sống được lâu, đợi đến khi ngươi khôn lớn rồi, lúc đó mới chỉ bảo cho cháu, ắt ngươi sẽ hiểu biết tường tận, có ngờ đâu ... có ngờ đâu ...

Bà lão ho khan mấy tiếng nói tiếp:

- Chúng ta người đông lương đủ, điều đó không sai. Có điều người Đại Tống văn nhược, không dũng mãnh như người Khất Đan. Hơn nữa một khi đánh nhau rồi, quân dân gan óc đầy đất, không biết bao nhiêu người chết, cháy không biết bao nhiêu nhà cửa, thiên hạ không biết bao nhiêu gia đình nhà tan người chết, vợ chồng chia lìa, con cái ly tán. Làm vua thì lúc nào cũng phải nghĩ đến điều "nhân", không nói gì chuyện thắng bại chưa liệu trước được, mà dẫu ở thế tất thắng chăng nữa nếu không phải đánh thì vẫn hơn.

Triệu Hú đáp:

- Yên Vân thập lục châu của ta bị bọn người Liêu chiếm mất, hàng năm mình còn phải tiến cống cho chúng vàng bạc lụa là, chẳng khác gì phiên thuộc, lại như nước bầy tôi, hài tử thân làm thiên tử Đại Tống, cái nhục đó làm sao nuốt nổi? Không lẽ mình mãi mãi chịu người Liêu áp chế hay sao?

Giọng y càng lúc càng to:

- Trước đây Vương An Thạch biến pháp, thi hành phép bảo giáp, bảo mã, chẳng phải là để cho quốc phú dân cường, tẩy rửa cái nhục tổ tông hay sao? Làm con làm cháu, phải rửa nhục cho ông cha, ấy mới là đại hiếu. Phụ hoàng một đời chuyên cần chăm lo chẳng phải vì lẽ đó đấy ư? Hài tử định rằng sẽ kế thừa chí hướng của gia gia. Chí đó không thành nguyện như chiếc ghế này.

Đột nhiên y rút phắt bội kiếm đeo ở hông, chém đứt đôi một chiếc ghế. Hoàng đế trừ khi tập luyện duyệt binh, xưa nay không đeo đao kiếm. Thái hoàng thái hậu đột nhiên thấy thằng bé rút kiếm ra chém chiếc ghế,

không khỏi hoảng hồn, mơ mơ hồ hồ nghĩ bụng: "Y tại sao lại đeo kiếm? Định đến giết ta chăng? Hay y không muốn ta thùy liêm thính chính? Thằng bé này lớn mật làm càn, ta phải phế bỏ y đi". Bà ta tuy tính tình từ ái nhưng chưởng ác quyền bính đã lâu, nay thấy quyền lực lung lay, lập tức nghĩ ngay đến loại trừ địch thủ, dẫu cho là kẻ cốt nhục chí thân cũng không khoan thứ, trong một thoáng bà quên rằng mình đang vào cảnh đèn khô dầu kiệt, trong chốc lát sẽ lìa đời.

Còn Triệu Hú đang chú tâm vào việc làm sao phá trận sát địch, thu phục lại Yên Vân mười sáu châu, huyễn tưởng mình đang ngồi trên lưng ngựa, thống suất trăm vạn hùng binh, đánh vào Thượng Kinh, Liêu chúa Gia Luật Hồng Cơ cởi trần ra hàng. Y giơ thanh bội kiếm lên, ngang nhiên nói:

- Quốc gia đại sự đều bị bọn hủ nho nhát gan làm hỏng việc. Bọn họ tự xưng quân tử, thực ra chỉ là đồ tiểu nhân tham sống sợ chết, tự tư tự lợi, ta ... ta phải trừng trị bọn chúng một phen cho hả tức.

Thái hoàng thái hậu tỉnh táo trở lại, nghĩ thầm: "Thằng bé này là đương kim hoàng đế, y có chủ ý riêng, ta không còn bảo nó phải nghe lời mình nữa rồi. Ta bây giờ chỉ là một bà lão sắp chết, còn y là một ông vua đang lúc thanh niên khỏe mạnh, y là vua, y là vua". Bà cố hết sức nói thêm một câu:

- Hài nhi, cháu có tâm chí như thế, nãi nãi sung sướng lắm.

Triệu Hú mừng rỡ, tra kiếm trở vào bao nói:

- Bà ơi, cháu nói thế là đúng rồi, phải không?

Thái hoàng thái hậu đáp:

- Thế cháu có biết thế nào là kế sách vạn toàn, nhất định phải thắng hay không?

Triệu Hú cau mày nói:

- Tuyển tướng luyện binh, tích trữ lương thảo cùng người Liêu một trận thư hùng thì có thể thắng nhưng bảo là nhất định là thắng thì chưa chắc.

Thái hoàng thái hậu nói:

- Cháu cũng biết rằng hai bên ra trận không có cái gì gọi là "tất thắng chi lý". Thế nhưng người Tống chúng ta còn biết phép không cần đánh mà vẫn khuất phục được người.

Triệu Hú đáp:

- Cho dân nghỉ ngơi, thi hành nhân chính, ấy là không cần đánh mà vẫn khuất phục người, có phải thế không? Bà ơi, đó là kiến thức hủ nát của bọn thư sinh Tư Mã Quang, làm sao nên nổi đại sự cho được?

Thái hoàng thái hậu thở dài một tiếng, chậm rãi nói:

- Tư Mã tướng công kiến thức trác việt, sao cháu lại bảo là kiến thức hủ nát của bọn thư sinh? Ngươi là chủ của một nước, phải luôn luôn chịu khó đọc Tư Trị Thông Giám của Tư Mã tướng công soạn ra. Hơn nghìn năm qua, những triều đại sở dĩ hưng suy bại vong ra sao, trong sách đều có viết rõ ràng. Đất nước Đại Tống chúng ta đất đai màu mỡ, dân số đông đảo, gấp mười nước Liêu, nếu không có chiến tranh, chỉ trong mười, hai mươi năm chúng ta càng thêm phú túc. Người Liêu dũng mãnh hiếu chiến, chúng ta chỉ cần nghiêm thủ biên cảnh, các bộ lạc của chúng ắt sẽ tàn sát lẫn nhau, giao tranh qua lại, khi đó nguyên khí sẽ cực kỳ thương tổn. Cái loạn Sở vương năm trước, bao nhiêu tinh binh nhuệ tốt của nước Liêu chết không phải là ít ...

Triệu Hú vỗ đùi nói:

- Đúng đó, lúc đó hài nhi đã tính xua quân lên miền Bắc, để nội ngoại giáp công, người Liêu đang có mối lo trong gan ruột không dễ gì ứng phó. Ôi, tiếc thay lại để mất một dịp may nghìn năm một thuở.

Thái hoàng thái hậu gắt lên:

- Ngươi lúc nào cũng chỉ nghĩ đến chuyện đánh nhau với nước Liêu, ngươi ... ngươi ... ngươi ...

Đột nhiên bà ngồi nhỏm dậy, ngón tay phải giơ ra chỉ thẳng vào Triệu Hú. Thái hoàng thái hậu tích uy đã lâu, Triệu Hú sợ quá lùi lại ba bước, chân lập cập tưởng như ngã đến nơi, tay để lên đốc kiếm, tim đập thình thình, kêu lên:

- Mau lên, các ngươi mau vào đây.

Bọn thái giám nghe thấy hoàng thượng gọi, vội vàng chạy vào điện. Triệu Hú run rẩy nói:

- Bà ... bà ấy ... các ngươi xem bà ấy ra sao rồi?

Y mới rồi hùng tâm đại chí, muốn cùng người Khất Đan một trận tử chiến, thế nhưng một bà lão sắp chết vừa phát uy, thì đã sợ đến hồn bất phụ thể, chân tay luống cuống. Một tên thái giám tiến lên mấy bước, chăm chăm nhìn thái hoàng thái hậu một hồi, thu hết can đảm, giơ tay cầm mạch bà ta rồi nói:

- Khải tấu hoàng thượng, thái hoàng thái hậu đã thừa long qui thiên.

Triệu Hú mừng rỡ, cười ha hả, thở phào:

- Hay lắm! Hay lắm! Ta là hoàng đế rồi! Ta là hoàng đế rồi!

Y tuy đã làm vua chín năm nhưng thực ra chỉ hữu danh vô thực, đại quyền nằm trong tay thái hoàng thái hậu, cho đến lúc này mới thực là được làm vua.

Triệu Hú thân lý chính vụ, việc đầu tiên là cách chức Lễ Bộ thượng thư Tô Thức4, biếm xuất ra làm tri phủ Định Châu. Tô Thức văn chương nổi danh thiên hạ, người đương thời ai ai cũng trọng vọng. Ông là kẻ đối đầu số một của Vương An Thạch, xưa nay luôn luôn phải đối tân pháp. Thời Nguyên Hựu, thái hoàng thái hậu thùy liêm thính chính, trọng dụng Tư Mã Quang, và hai anh em Tô Thức, Tô Triệt. Bây giờ thái hoàng thái hậu chết rồi, hoàng đế liến biếm trục Tô Thức, trong triều cho chí dân gian ai nấy đều lo sợ, bụng bảo dạ: "Hoàng đế chắc lại định thi hành tân chính, làm khổ trăm họ lần nữa". Thế nhưng cũng có những kẻ trong bụng mừng thầm, hoàng đế thi hành chính sách mới thì họ lại có dịp thăng quan phát tài.

Vào thời đó chấp chính trong triều đều là cựu thần của thái hoàng thái hậu. Hàn Lâm học sĩ Phạm Tổ Vũ5 tâu lên:

Tiên thái hoàng thái hậu lấy tấm lòng đại công chí chính, bãi bỏ tân pháp của bọn Vương An Thạch, Lã Huệ Khanh mà thi hành chính sách cũ của tổ tông khiến cho xã tắc đang nguy trở lại thành an, lòng người đang ly trở về thành hợp. Đến ngay cả Liêu chúa cũng bàn với tể tướng rằng: "Nam triều tuân hành chính sự của Nhân Tông, giữ vững Yên Kinh, ước thúc quân lính đóng ở biên giới, không sinh sự". Bệ hạ quan sát tình hình nước địch như thế ắt cũng biết được lòng dân Trung quốc như thế nào rồi.

Đến nay bệ hạ trông coi triều chính, kẻ tiểu nhân ắt mong có thay đổi, kẻ tham lợi ắt cũng ngóng trông. Thần mong mỏi bệ hạ nghĩ đến công lao gian khổ của tổ tông và tiên thái hoàng thái hậu, đau lòng nhức óc, ghi lòng tạc dạ rằng phải làm sao hết sức tránh xa kẻ tiểu nhân, tuân thủ phép nước đời Thiên Hựu, một lòng vững chãi như kim thạch, nặng như sơn nhạc, để trong triều ngoài nội ai ai một lòng, quay về đường ngay nẻo chính, thế thì quả là cái may cho thiên hạ.

Triệu Hú càng coi càng tức tối, vứt tấu chương xuống bàn nói:

- "Đau lòng nhức óc, ghi lòng tạc dạ rằng phải làm sao hết sức tránh xa kẻ tiểu nhân", câu này đúng lắm. Thế nhưng biết ai là quân tử, ai là tiểu nhân?

Nói xong mặt hầm hầm nhìn Phạm Tổ Vũ. Phạm Tổ Vũ khấu đầu đáp:

- Bệ hạ minh sát: Khi thái hoàng thái hậu vừa mới thính chính, trong triều ngoài nội quan dân dâng biểu vô số, ai ai cũng nói rằng chính lệnh không hợp lòng người, khổ hại cho dân đen. Thái hoàng thái hậu thuận theo dân tâm thiên hạ, thay đổi chính sách, những ai có tội thì đuổi đi, bệ hạ và thái hoàng thái hậu đều theo ý dân mà làm, những người bị biếm trục ắt phải là kẻ tiểu nhân.

Triệu Hú cười nhạt, lớn tiếng nói:

- Chuyện thái hoàng thái hậu trách phạt đuổi về nào có liên can gì đến ta?

Y liền phất tay áo bãi triều. Tuy Triệu Hú căm ghét quần thần nhưng vì mới thân chính chưa lâu, không tiện đuổi hết bao nhiêu đại thần nên mới hạ chiếu thăng cho nội thị Nhạc Sĩ Tuyên, Lưu Duy Giản, Lương Tòng Chính ... lên làm quan, tưởng thưởng công lao phò tá mình, rồi thác bệnh lâu ngày không nhập triều.

Thái giám đưa vào một phong tấu chương, nét chữ mập mạp cứng cỏi, thự danh Tô Thức. Triệu Hú nói:

- Gã râu rậm họ Tô này viết chữ đẹp nhỉ, không biết lại nói lăng nhăng gì đây?

Thấy trên sớ viết:

Thần hầu hạ trong trướng bệ hạ đã lâu, nay được sai ra nơi biên cảnh, mong sao được diện kiến long nhan trước khi lên đường. Tiểu thần nay phải xa bệ hạ, trong lòng bịn rịn, quả là khó thay.

Triệu Hú nói:

- Ta không muốn gặp cái lão râu rậm này, suốt đời không muốn gặp lại y.

Y tiếp lấy tờ sớ đọc xuống dưới thấy viết:

Thế nhưng thần không dám vì cái lòng ngu trung mà không ra sức. Thánh nhân thời cổ đã từng làm tướng, ắt trước hết phải ở nơi chỗ tối mà quan sát chỗ sáng, ở vào chỗ tĩnh mà quan sát chỗ động, ắt là mọi vật trước mắt đều rõ ràng. Bệ hạ thánh trí hơn người, tuổi đang lúc thanh niên ...

Triệu Hú mỉm cười, nghĩ thầm: "Gã râu rậm này quả là giảo hoạt, cũng biết giở trò bợ đỡ, nói ta là"thánh trí tuyệt nhân". Thế nhưng y lại thêm "tuổi đang thanh niên" chẳng phải bảo ta còn nhỏ, mà tuổi trẻ thì chẳng biết gì hay sao?". Đọc tiếp xuống viết:

Thần nguyện sẽ để lòng trống không để xem xét cho rõ lý lẽ, mọi việc để nguyên chưa làm gì vội, cố gắng quan sát chỗ chính tà của bề dưới, xem chỗ lợi, chỗ hại, ba năm sau rõ ràng mọi chuyện, lúc đó mới tùy theo tình hình mà làm, có như thế thiên hạ mới không oán hận, bệ hạ không phải hối tiếc. Xem như thế thì cũng rõ ràng những việc bệ hạ cần làm, chỉ sợ quá sớm chứ không sợ trễ. Thần chỉ sợ những kẻ ham điều lợi muốn tiến nhanh, chưa tính toán kỹ đã giục bệ hạ cải biến nên phải nói ra, chỉ mong bệ hạ lưu tâm thì đó là điều đại hạnh của thiên hạ, đại phúc cho tông miếu xã tắc.

Triệu Hú đọc xong tấu chương nghĩ thầm: "Người người ai cũng bảo gã râu rậm họ Tô thông minh tuyệt đỉnh, quả nhiên danh bất hư truyền. Y biết ta nhất quyết đi theo tiên đến khôi phục lại tân pháp nên không dám đến ngăn cản, chỉ khuyên ta tạm hoãn ba năm. Ôi, cái gì mà "đến lúc thi hành thiên hạ mới không oán giận, bệ hạ không phải hối tiếc". Y nói quanh nói co nhưng ý thì cũng vậy thôi chứ có khác gì? Y bảo ta nếu như mong cái lợi gấp gáp, nóng nảy muốn làm chuyện lớn ắt thiên hạ sẽ oán hận, rồi sau ta sẽ hối hận mà thôi". Triệu Hú giận dữ, cầm bản tấu chương xé tan nát.

Mấy ngày sau vào triều, Phạm Tổ Vũ lại dâng sớ tâu lên:

Đầu thời Hi Ninh, Vương An Thạch, Lã Huệ Khanh đặt ra ba tân pháp, thay đổi chính sách của tổ tông dẫn đến kẻ tiểu nhân làm hỏng việc quốc gia. Nếu những người ủng hộ đường lối cũ không được dùng, những kẻ sĩ trung chính bị đẩy đi xa. Kế đó lại dùng binh nơi biên cảnh, kết oán với ngoại di, thiên hạ sầu khổ, bách tính bỏ đi.

Triệu Hú đọc đến đây hết sức tức tối nghĩ thầm: "Ngươi chê trách Vương An Thạch, Lã Huệ Khanh nhưng kỳ thực chẳng là chê phụ hoàng hay sao?". Y đọc xuống dưới thấy viết:

Sái Xác liên tiếp xây thêm nhà ngục, Vương Thiều thu phục Hi Hà, Chương Đôn6 khơi năm khe nước, Thẩm Khởi làm phiền đất Giao7, Thẩm Quát 8 hưng binh Tây sự, dân binh chết không dưới hai chục vạn người. Tiên đế lâm triều khi đó mới hối hận, chỉ dụ triều đình từ nay không được phạm vào những sai lầm đó nữa ...

Triệu Hú càng đọc càng thêm giận dữ, bỏ qua mấy hàng, bên dưới tiếp:

... dân chúng ai nấy buồn đau, nhà nhà chỉ mong làm loạn, may được bệ hạ và thái hoàng thái hậu cứu cho, người trong thiên hạ, tưởng chừng trút được ...

Triệu Hú đọc đến đây không còn nhẫn nại thêm được nữa, vỗ long án đứng phắt dậy. Y lúc này vừa mười tám tuổi, ở trong vai hoàng đế tôn quí lại càng thêm oai nghi, ở giữa triều nổi nóng, triều thần không ai là không kinh hãi, nghe y gay gắt nói:

- Phạm Tổ Vũ, tấu chương của ngươi như thế này chẳng là phỉ báng tiên đế hay sao?

Phạm Tổ Vũ liên tiếp khấu đầu tâu:

- Bệ hạ minh giám, vi thần vạn lần không dám.

Triệu Hú vừa mới nắm đại quyền thấy quần thần ai nấy run sợ, cực kỳ đắc ý, nộ khí giảm dần nhưng mặt vẫn làm ra vẻ hung dữ, lớn tiếng nói:

- Tiên đế thiên tính tài ba, hùng tâm đại chí có ý dẹp giống man di, thống nhất thiên hạ, rủi thay đương lúc thịnh niên bất hạnh băng hà, trẫm kế thừa di chí của tiên đế, có gì là không phải? Vậy mà các ngươi lèm bèm nói mãi, dám bảo biến pháp của tiên đế là sai lầm.

Trong đám quần thần một người bước ra, tướng mạo thanh tú thoạt trông đã có uy, chính là Tể Tướng Tô Triệt. Triệu Hú trong lòng không vui, nghĩ thầm: "Gã này là em của lão râu rậm họ Tô, hai anh em hung hăng kết đảng, thứ miệng chó làm sao mọc ngà voi được". Chỉ nghe Tô Triệt tâu lên:

- Bệ hạ minh sát, tiên đế đã thi hành rất nhiều việc, quả là vượt xa tiền nhân. Chẳng hạn như tiên đế tại vị mười hai năm, vậy mà suốt đời không đặt tôn hiệu, bọn thần dâng tấu chương ca tụng công đức, tiên đế khiêm tốn không nhận. Còn như chính sự có điều không phải, thì có triều đại nào lại không tránh được chỗ sơ sót? Đời cha làm, đời con chữa, ấy là đức hiếu của người xưa.

Triệu Hú hừ một tiếng, lạnh nhạt hỏi lại: - Cái gì mà bảo là "đời cha làm, đời con chữa"?

Tô Triệt tâu:

- Đó là lời của Tỉ Phương nói về chuyện Hán Võ Đế. Hán Võ Đế bên ngoài gây chuyện với tứ di, bên trong xây cất cung điện, quốc khố trống rỗng, thành thử phải đặt ra thuế muối, thuế sắt, độc quyền rượu, quân du9, chiếm đoạt tài nguyên lợi vật của bách tính khiến cho mấy lần dân nổi loạn lớn. Sau khi Võ Đế băng hà, Chiêu Đế nối ngôi, trong dụng Hoắc Quang, bãi bỏ những chính sách hà khắc nên cơ nghiệp nhà Hán mới an định được.

Triệu Hú lại hừ một tiếng nghĩ thầm: :Ngươi dám ví phụ hoàng với Hán Võ Đế". Tô Triệt thấy hoàng đế vẻ mặt không vui, sự tình có chiều hung hiểm, nghĩ thầm: "Nếu còn nói thêm, hoàng thượng nổi giận, ta sẽ mất mạng không chừng, nhưng nếu cứ hùa theo thì thiên hạ lại trở nên khốn khó. Hàng nghìn hàng vạn người sẽ đói rét lầm than, lưu vong thất thổ, đương quốc đại thần như ta lẽ nào lại ngồi yên? Hôm nay chính là lúc ta lấy cái tính mạng nhỏ bé báo đáp thâm ân của thái hoàng thái hậu". Ông bèn tiếp:

- Thời Hậu Hán, vua Minh Đế để ý từng li từng tí, lấy việc bói toán để quyết đoán mọi sự, lại tin những lời huyền hoặc quái lạ, tra xét ngôn ngữ cử chỉ các bầy tôi, chuyện gì cũng xét nét, thiên hạ ai ai cũng sợ hãi, bụng dạ phập phồng. Chương Đế nối ngôi, hiểu rõ những thất bại của đời trước nên dùng chính sách nhân hậu khoan thứ, lòng người vui vẻ, thiên hạ đại trị, ấy cũng là con mà chống đỡ được cái sai sót của cha, thi hành cái đại hiếu của thánh nhân.

Tô Triệt đoán chừng Triệu Hú tức vị khi mới lên mười, chín năm qua mọi việc đều nghe lời thái hoàng thái hậu, trong bụng thể nào cũng oán hận, quyết ý hủy chính sự của thái hoàng thái hậu mà khôi phục biến pháp đời Thần Tông để tỏ lòng hiếu đối với cha, thành thử mới nhắc đến "thánh nhân chi đại hiếu" để khuyên nhủ hoàng đế.

Triệu Hú lớn tiếng nói:

- Hán Minh Đế tôn sùng nho thuật, có gì bảo là không hay đâu? Ngươi dám đem Hán Võ Đế để đem so sánh với tiên đế, ấy là có dụng ý gì? Không phải là công nhiên phỉ báng hay sao? Hán Võ Đế hiếu chiến làm khổ dân, hành vi hoang tàn bị đời sau cười chê, cuối đời phải tự hạ chiếu trách cứ mình thật là thống thiết, sao lại sánh với tiên đế được?

Y càng nói càng lớn tiếng, giọng điệu cực kỳ gay gắt. Tô Triệt liên tiếp khấu đầu, lui xuống giữa sân quì xuống chịu tội, không còn dám nói thêm câu nào nữa. Nhiều người trong đám đại thần nghĩ thầm: "Biến pháp của tiên đế làm cho dân khốn khổ, buổi sớm không biết có sống được đến chiều không, Hán Võ Đế còn khá hơn ông ta nhiều". Thế nhưng có ai dám nói ra, lại cũng có ai dám phân trần biện giải cho Tô Triệt?

Một vị đại thần râu bạc tiến ra, chính là Phạm Thuần Nhân, ung dung nói:

- Xin bệ hạ bớt giận. Tô Triệt nói năng tuy có điều thất thố nhưng cũng chỉ vì có ý tốt tỏ bụng ái quốc trung quân. Bệ hạ mới vừa thân chính, đối với đại thần cũng nên lễ mạo, không thể coi như đầy tớ. Huống chi Hán Võ Đế cuối đời hối hận về việc sai lầm đã qua, tri quá năng cải, cũng không phải là một ông vua tồi bại.

Triệu Hú nói:

- Người đời ai ai cũng bảo "Tần Hoàng, Hán Võ", Hán Võ Đế đứng ngang với Tần Thủy Hoàng bạo ngược, không phải là kẻ cực kỳ vô đạo thì là gì?

Phạm Thuần Nhân đáp:

- Lời luận của Tô Triệt ấy là nói về thời thế và sự tình chứ không phải nói về người.

Triệu Hú thấy Phạm Thuần Nhân bẻ lại mình, lại càng giận hơn nữa không sao dằn nổi, quát lên:

- Tô Triệt vào đây!

Tô Triệt từ sân đình tiến vào trong điện, không dám đứng vào vị trí cũ, quì xuống cuối hàng nói:

- Vi thần đắc tội với bệ hạ, xin được bãi chức.

Hôm sau có chiếu, giáng Tô Triệt xuống làm Đoan Minh Điện học sĩ, đưa ra trấn nhậm tri châu Nhữ Châu, đường đường một vị tể tướng nay xuống làm một chức quan nhỏ bé.

Động tĩnh ở Nam Triều lập tức có tế tác báo về Thượng Kinh. Liêu chúa Gia Luật Hồng Cơ được tin thái hoàng thái hậu băng hà, thiếu quân Triệu Hú cách chức đại thần, hiển nhiên muốn trở lại thi hành tân chính, trong bụng mừng lắm nói:

- Ta phải xuống Nam Kinh ngay, cùng Tiêu đại vương nghị sự.

Gia Luật Hồng Cơ lại tiếp:

- Nam triều có không ít gián điệp ở Thượng Kinh, nếu biết ta đi xuống Nam Kinh, ắt sẽ đề phòng. Chúng ta chỉ nên chuẩn bị giản dị, ít kẻ tùy tòng, đi cho nhanh, không cần phải thông tri cho Nam Viện Đại Vương.

Lập tức dẫn ba nghìn giáp binh, đi về hướng nam. Để tránh cái cảnh Sở vương làm loạn năm nào hoàng đế để Tiêu hậu thống lãnh tất cả binh mã còn lại Thượng Kinh, chỉ đem mười vạn tinh binh hộ giá chia đường đi theo xuống.

Chỉ một ngày, ngự giá đến ngoài thành Nam Kinh. Hôm đó Tiêu Phong đem theo hai mươi vệ binh đi săn ở mạn bắc, bỗng nghe Liêu chúa đến, vội vàng ruổi ngựa chạy lên nghinh giá, từ xa trông thấy tàn vàng tán tía, lập tức xuống ngựa, hối hả chạy đến, lạy phục xuống.

Gia Luật Hồng Cơ cười ha hả, giục ngựa lên nói:

- Huynh đệ, ta với ngươi danh thì là quân thần, tình thực thì như ruột thịt, việc gì phải hành đại lễ như thế?

Y lập tức đưa tay đỡ lên, cười hỏi:

- Có săn được nhiều dã thú không?

Tiêu Phong đáp:

- Mấy hôm nay trời lạnh ngắt, bao nhiêu thú chạy xuống phương nam tránh lạnh, đi săn đã lâu chỉ được mấy con chó sói, mấy con cheo chứ không được thú lớn.

Gia Luật Hồng Cơ vốn rất thích săn bắn liền nói:

- Vậy mình xuống phía nam xem sao!

Tiêu Phong đáp:

- Ngoại thành phía nam tiếp giáp với Nam triều, thần sợ làm mất hòa khí giữa hai nước nên nghiêm cấm hạ thuộc săn bắn nơi đây.

Gia Luật Hồng Cơ hơi nhíu mày hỏi lại:

- Thế thì còn đi "gặt lúa" thì làm sao?

Tiêu Phong đáp:

- Thần cũng cấm tuyệt rồi.

Gia Luật Hồng Cơ nói:

- Hôm nay anh em mình gặp nhau, phá lệ một chuyến, có được không?

Tiêu Phong đáp:

- Vâng!

Tiếng tù và thổi u u, Gia Luật Hồng Cơ và Tiêu Phong hai người cưỡi ngựa chạy song song, vòng qua thành Nam Kinh đi thẳng về phương nam. Ba nghìn giáp binh tùy tòng cũng chạy theo. Chạy được chừng hai chục dặm, các giáp binh cùng reo hò, chia ra hai bên đông tây thành hình cánh quạt vây lại. Chỉ nghe tiếng ngựa hí chó sủa rầm rĩ, bốn phía thắt vòng vây, trong đám cỏ có mấy con thỏ, con chồn chạy ra.

Gia Luật Hồng Cơ không muốn bắn thú nhỏ, đợi một lúc lâu, vẫn không thấy những loại gấu hay hổ nào chạy ra, còn đang bẽ bàng bỗng nghe tiếng người kêu la, từ phía đông nam chừng mươi hán tử chạy đến, nhìn y phục ra vẻ tiều phu thợ săn Nam triều. Liêu binh không đuổi được dã thú, biết rằng hoàng thượng mất vui, liền đi kiếm mấy kẻ nam nhân vây lại, hò hét xua đuổi, dồn họ đến trước ngựa của hoàng đế.

Gia Luật Hồng Cơ cười nói:

- Thật tốt quá!

Y liền cởi chiếc cung nạm vàng khảm ngọc, lắp lang nha tiễn lông điêu, liên tiếp bắn ra, vèo vèo vèo mấy tiếng, không mũi tên nào trật, trúng sáu Nam nhân. Những người còn lại sợ đến mất hết hồn vía, quay mình bỏ chạy nhưng lại bị lính Liêu dùng mâu chặn đuổi trở lại.

Tiêu Phong thấy vậy hết sức bất nhẫn, kêu lên:

- Bệ hạ!

Gia Luật Hồng Cơ cười nói:

- Những kẻ còn lại để cho ngươi, để ta xem thần tiễn của huynh đệ thế nào!

Tiêu Phong lắc đầu:

- Những người này có tội gì đâu, tha cho họ đi.

Gia Luật Hồng Cơ cười:

- Người nam nhiều quá, cần phải giết sạch thì thiên hạ mới thái bình. Bọn chúng đầu thai lầm chỗ làm người phương nam, thế là có tội rồi.

Nói xong lại liên tiếp bắn ra, mỗi mũi tên là một người, túi đựng tên bắn đến một nửa hơn chục người Hán không ai thoát được, kẻ thì chết ngay, kẻ thì trúng bụng chưa tắt thở nằm gục xuống rên la. Đám quân Liêu reo hò ầm ỹ cùng hô:

- Vạn tuế!

Tiêu Phong lúc ấy nếu như ra tay ngăn cản thì thừa sức đánh giạt những vũ tiễn của Liêu đế nhưng công nhiên làm mất mặt nhà vua trước mắt quân lính thì quả là đại nghịch bất đạo, nhưng vẻ khó chịu không thể không tỏ ra nét mặt. Gia Luật Hồng Cơ cười hỏi:

- Sao thế?

Y đang định cất cung đi, bỗng thấy một con ngựa vượt vòng săn, chạy vùn vụt tới. Gia Luật Hồng Cơ thấy người ngồi trên ngựa ăn vận theo kiểu Hán nhân, không cần hỏi han, tra tên vào loan cung bắn vụt ra phía người kia. Người kia giơ hai ngón tay kẹp được ngay mũi tên. Ngay khi đó mũi tên thứ hai của Gia Luật Hồng Cơ cũng đã bắn tới, tay trái người kia lại thò ra, kẹp được ngay. Thế nhưng con ngựa không chậm lại, vẫn băng băng chạy về phía Liêu chúa. Gia Luật Hồng Cơ tên bắn liên tiếp, hết mũi nọ đến mũi kia tưởng chừng như đầu tên nọ nối đuôi mũi tên kia.

Thế nhưng y bắn đã nhanh mà đối phương bắt tên lại còn nhanh hơn, chỉ trong khoảnh khắc, người bắn ra bảy mũi tên thì người kia bắt đủ bảy.

Liêu binh bảo vệ hoàng đế liền la ó, cùng giơ trường mâu ra chặn ngang trước mặt Gia Luật Hồng Cơ, en ngại kẻ kia phạm giá. Khi đó hai bên còn cách nhau chẳng bao xa, Tiêu Phong nhì rõ được mặt người kia rồi, giật mình kinh hãi kêu lên:

- A Tử, ngươi đấy ư? Không được vô lễ với hoàng thượng.

Người trên ngựa cười khanh khách, ném bảy mũi tên bắt được cho bọn vệ binh, nhảy xuống ngựa, quay sang Gia Luật Hồng Cơ quì xuống hành lễ nói:

- Hoàng thượng, tiểu nữ bắt tên của hoàng thượng, xin đừng trách.

Gia Luật Hồng Cơ cười đáp:

- Hảo thân thủ! Hảo bản sự!

A Tử đứng thẳng dậy kêu lên:

- Tỉ phu ra đón tiểu muội đấy ư?

Hai chân nàng nhún một cái nhảy ngay tới trước mặt con ngựa Tiêu Phong đang cưỡi. Tiêu Phong thấy hai mắt cô gái lóng lánh có thần, vừa kinh ngạc, vừa mừng rỡ kêu lên:

- A Tử, sao mắt cô sáng lại rồi?

A Tử cười đáp:

- Đó là nhị đệ của tỉ phu chữa cho em đó, anh thử nghĩ có giỏi không?

Tiêu Phong lại chăm chú nhìn cô gái, đột nhiên rùng mình một cái, dường như trong ánh mắt A Tử có điều gì hết sức u uẩn thương tâm. Nói cho đúng ra mắt nàng đã khỏi, lại gặp lại mình thì phải mười phần hoan hỉ mới phải, vậy mà sao lại toát ra một vẻ buồn khổ như thế? Chỉ có tiếng cười của nàng là đầy vẻ sung sướng mà thôi. Tiêu Phong nghĩ thầm: "Chắc là trên đường đi tiểu A Tử gặp nhiều điều khốn khó".

Đột nhiên A Tử kêu rú lên một tiếng, vọt lên phía trước. Tiêu Phong cũng cảm thấy có người ở sau lưng mình đột nhiên ra tay ám toán, lập tức quay lại, thấy một cái chĩa ba dùng để đi săn đang lao về mình. A Tử thò tay ra chộp lấy, thuận tay ném lại, chiếc đinh ba liền đâm thẳng vào ngực một người đang nằm dưới đất. Người đó là một thợ săn Hán nhân, bị Gia Luật Hồng Cơ bắn trúng nhưng chưa chết, thu hết tàn lực, phóng chiếc đinh ba vào lưng Tiêu Phong. Y thấy Tiêu Phong ăn mặc theo lối cao quan nước Liêu, chỉ mong giết được ông để rửa mối thù bị người ta sát hại.

A Tử chỉ vào cái xác gã thợ săn chửi:

- Đồ chó lợn không biết lượng sức mình kia, sao dám tính chuyện ám hại tỉ phu ta?

Gia Luật Hồng Cơ thấy A Tử phóng chiếc chĩa ba giết gã thợ săn, trong bụng mừng rỡ nói:

- Hảo cô nương, cô thân thủ nhanh nhẹn, quả là tài giỏi thật. Mũi xoa đó dĩ nhiên không thể nào làm gì được Nam Viện Đại Vương, nhưng nếu như vì thế mà bị thương nhẹ thì không khỏi làm hỏng đại sự của trẫm. Hảo cô nương, cô muốn ta thưởng gì đây?

A Tử đáp:

- Hoàng thượng phong cho tỉ phu của tiểu nữ làm quan to, cũng cho tiểu nữ một chức quan đi nhé? Chẳng cần phải to như của tỉ phu nhưng cũng đừng nhỏ quá để người ta coi thường thiếp.

Gia Luật Hồng Cơ cười đáp:

- Bên nước Liêu nữ nhân chỉ làm việc nhà chứ không làm quan. Nếu đã thế, ngươi vốn đã là quận chúa rồi, ta thăng ngươi lên một cấp, phong ngươi làm công chúa, gọi là công chúa gì đây nhỉ? Được rồi, gọi là Bình Nam công chúa.

A Tử dẩu miệng nói:

- Công chúa thì không làm.

Gia Luật Hồng Cơ ngạc nhiên:

- Sao lại không làm?

A Tử đáp:

- Hoàng thượng kết nghĩa anh em với tỉ phu thiếp, nếu phong cho tiểu nữ làm công chúa thì có khác gì con gái của hoàng thượng, như vậy hóa ra bị tụt một vai hay sao?

Gia Luật Hồng Cơ thấy A Tử đối với Tiêu Phong thần tình thân thiết mà Tiêu Phong lại không gần nữ sắc, cứ theo tục thường của người Liêu, làm quan to như thế, chẳng nói tam thê tứ thiếp mà đến ba chục vợ bốn chục nàng hầu cũng còn được, ắt hẳn cũng có tình ý với A Tử, nhưng vì chưng nàng còn nhỏ tuổi nên không tiện thành thân. Y bèn cười đáp:

- Công chúa của ngươi đây là trưởng công chúa, ngang vai với em gái ta, chứ không phải ngang với con gái ta. Chẳng những ta phong ngươi làm Bình Nam công chúa mà cả tâm nguyện của ngươi ta cũng sẽ thành toàn cho, vậy đã được chưa?

Khuôn mặt xinh xắn của A Tử hơi ửng hồng nói:

- Tiểu nữ có tâm nguyện gì đâu? Làm sao bệ hạ biết được? Bệ hạ là thân hoàng đế sao cũng lại bạ đâu nói đấy như thế?

Nàng xưa nay chẳng sợ trời sợ đất, không biết kiêng nể ai đối với Gia Luật Hồng Cơ cũng chẳng giữ lễ quân thần. Nước Liêu lễ pháp vốn còn thô sơ, Tiêu Phong lại là quí nhân được Gia Luật Hồng Cơ cực kỳ sủng tín, A Tử nói thế mà y chỉ cười khì khì nói:

- Nếu chức Bình Nam công chúa ngươi còn không chịu thì ta đành chịu thôi. Một, hai, ba, có chịu hay không thì bảo?

A Tử khoan thai lạy phục xuống, nói nhỏ:

- A Tử tạ ân.

Tiêu Phong cũng khom lưng hành lễ nói:

- Tạ bệ hạ ân điển.

Ông coi A Tử chẳng khác gì em gái mình, nàng được Liêu đế phong thưởng, Tiêu Phong cũng phải cảm ơn. Gia Luật Hồng Cơ áng chừng mình đoán không sai nghĩ thầm: "Để ta tổ chức cho y một lễ cưới thật long trọng, sau đó mới sai đi đánh Tống, lúc đó ắt sẽ tận lực mà làm". Còn Tiêu Phong trong bụng cũng tự hỏi: "Hoàng thượng phen này xuôi nam là có dụng ý gì? Sao lại phong cho A Tử cái danh hiệu Bình Nam công chúa? Bình Nam, chẳng lẽ hoàng thượng muốn động đao binh với Nam triều chăng?". Gia Luật Hồng Cơ nắm tay Tiêu Phong nói:

- Huynh đệ, anh em ta lâu ngày không gặp, phải tâm tình với nhau một lúc.

Hai người cưỡi ngựa cùng chạy về hướng nam, ngựa hay, đường lại phẳng nên chỉ chốc lát đã ra ngoài chục dặm. Cả một cánh đồng mênh mông bỏ hoang, trên ruộng mọc đầy gai góc cỏ dại. Tiêu Phong nghĩ thầm: "Người Tống sợ ta xua quân ra "đi gặt", đến nỗi cả chục vạn mẫu ruộng tốt thế này mà không ai cày cấy".

Gia Luật Hồng Cơ giục ngựa chạy lên trên một cái gò nhỏ, ghìm cương đứng trên đỉnh đồi, nhìn quanh quất đầy vẻ tự hào. Tiêu Phong cũng lên theo, đưa mắt nhìn về phương nam, chỉ thấy núi non trùng điệp, không biết đến đâu là bến bờ.

Gia Luật Hồng Cơ giơ roi chỉ xuống nói:

- Huynh đệ, nhớ lại hơn ba mươi năm trước, phụ hoàng cũng đã từng dắt ta đến đây, chỉ về phương nam cho ta thấy giang sơn của người Tống quả là gấm vóc.

Tiêu Phong đáp:

- Quả đúng vậy!

Gia Luật Hồng Cơ nói:

- Ngươi tự nhỏ lớn lên ở đất nam man, hiểu biết nhiều sơn xuyên nhân vật, ở phương nam hẳn là thoải mái hơn chúng ta phương bắc lạnh ngắt chứ gì?

Tiêu Phong đáp:

- Địa phương ở nơi nào thì cũng vậy. Nói đến "thoải mái" thì chỉ cần không phải lo lắng, trong lòng vui sướng là được rồi. Người phương bắc không quen ở phương nam, người phương nam cũng không quen ở phương bắc. Ông trời đã sắp đặt như thế rồi, nêá nhất định đổi chỗ cho nhau thì chỉ thêm phiền não.

Gia Luật Hồng Cơ nói:

- Ngươi là người Bắc nhưng cư ngụ ở phương nam, lâu quá hóa quen rôài, nay phải di cư lên phía bắc, không thấy bực bội hay sao?

Tiêu Phong đáp:

- Thâàn là kẻ lãng đãng giang hồ, bốn bể đâu cũng là nhà, không phải như bọn nhà nông hay kẻ chăn nuôi. Thần được bệ hạ ban cho nơi ăn chốn ở, cao quan hậu lộc vẫn hằng thâm cảm ân đức, còn có gì đâu mà phiền não?

Gia Luật Hồng Cơ quay lại, nhìn chăm chăm vào mặt ông. Tiêu Phong không tiện bốn mắt nhìn nhau, mỉm cười rồi đưa mắt sang chỗ khác. Gia Luật Hồng Cơ chậm rãi nói:

- Huynh đệ, ngươi với ta tuy kẻ chúa người tôi, nhưng là anh em kết nghĩa, lâu ngày không gặp nhau sao có vẻ hờ hững thế?

Tiêu Phong đáp:

- Trước đây vi thần không biết bệ hạ là thiên tử nước Liêu này, nên đã không khỏi mạo muội, ngạo mạn vói cao, nhưng sau này biết rồi, lẽ nào còn dám coi như huynh đệ kết nghĩa?

Gia Luật Hồng Cơ thở dài:

- Làm hoàng đế hóa ra chẳng có thể kết giao được với vài người tâm phúc, nghĩa khí thâm trọng hay sao? Huynh đệ, ví như ta theo ngươi hành tẩu giang hồ, không gì câu thúc, có khi lại sung sướng hơn!

Tiêu Phong mừng rỡ đáp:

- Bệ hạ nếu thích có bạn bè, cũng đâu có khó gì. Thần có hai người anh em kết nghĩa ở Trung Nguyên, một người là Hư Trúc Tử ở cung Linh Thứu, một người là Đại Lý Đoàn Dự, đều là những người nhiệt tình can đảm. Nếu như bệ hạ bằng lòng gặp họ, thần sẽ mời đến thăm Liêu quốc một chuyến.

Ông từ khi trở lại Nam Kinh, ngày ngày chung sống với đám thuộc hạ lính tráng, ngôn ngữ tính nết đều không hợp nhau, nên càng thêm nhớ nhung Hư Trúc, Đoàn Dự, chỉ mong hai người đến đây hàn huyên một phen.

Gia Luật Hồng Cơ mừng rỡ đáp:

- Nếu đã là anh em kết nghĩa của huynh đệ, thì cũng là anh em của ta. Ngươi mau mau sai người đưa thư, bảo hai người đó đến Liêu quốc, trẫm sẽ phong quan chức to cho họ.

Tiêu Phong mỉm cười nói:

- Mời họ qua đây chơi thì không khó nhưng bảo qua đây làm quan thì chắc họ không đi đâu.

Gia Luật Hồng Cơ trầm ngâm một chút rồi nói:

- Huynh đệ, ta xem thần tình ngôn ngữ nhà ngươi, trong lòng dường như có điều gì rầu rĩ không vui. Ta có cả thiên hạ, đưa binh đi bốn bể chỗ nào chả được, có chuyẹân gì lo cho ngươi mà không xong? Sao hiền đệ không nói cho người anh này biết?

Tiêu Phong trong lòng cảm động nói:

- Không dám dấu bệ hạ, chuyện này là mối hận bình sinh của thần, đã gây ra một sai lầm rất lớn, không thể nào vãn hồi được.

Nói rồi ông đem chuyện ngộ sát A Châu kể lại qua loa. Gia Luật Hồng Cơ vỗ đùi một cái lớn tiếng nói:

- Thảo nào huynh đệ đã ngoài ba mươi mà không lấy vợ, thì ra chỉ vì không quên được người cũ. Huynh đệ, ngươi sở dĩ gây ra cái sai lầm đó, chẳng qua cũng bởi bọn nam man người Hán tệ bạc, thêm bọn ăn mày người Hán vong ân phụ nghĩa.

Chú mày không việc gì phải buồn rầu, ta lập tức hưng binh, đánh cho bọn nam man một trận, bắt sạch bọn võ lâm Trung Nguyên, luôn cả bọn Cái Bang đem giết hết, để cho hả cái thù chết mẹ của huynh đệ nơi Nhạn Môn Quan, và cái hận bị vây khốn nơi Tụ Hiền Trang. Nếu chú mày thích gái đẹp người nam, ta sẽ chọn cho một nghìn đứa, hai nghìn đứa đến hầu hạ, có gì khó đâu?

Tiêu Phong trên mặt thoáng hiện vẻ gượng gạo, nghĩ thầm: "Ta đã giết lầm A Châu, kiếp này còn lấy ai nữa? A Châu là A Châu, tứ hải liệt quốc, thiên thu vạn tải cũng chỉ có một nàng A Châu mà thôi. Dù cho một nghìn, một vạn mỹ nữ người Hán cũng đâu có thể thay thế nàng? Hoàng thượng quen với cảnh hậu cung hàng trăm hàng nghìn cung nga phi tần, đâu có biết "tình" là thế nào?". Ông bèn nói:

- Đa tạ hậu ân của bệ hạ, nhưng cừu oán của thần với võ lâm Trung Nguyên đã một bút sổ toẹt rồi. Dưới tay vi thần đã giết không ít người trong võ lâm Trung Nguyên, lấy oán báo oán, quả là vô cùng vô tận. Chiến tranh xảy ra, liên miên không dứt, họa nọ tiếp họa kia, sự việc không biết sẽ đến chừng nào.

Gia Luật Hồng Cơ cười ha hả nói:

- Người Tống văn nhược, chỉ giỏi ăn to nói lớn, đến khi ra trận chưa đánh đã thua. Huynh đệ anh hùng vô địch, thống suất binh mã nam chinh, chỉ vài ngày là định được đất nam man, làm gì có chuyện binh liên họa kết? Huynh đệ, ca ca lần này xuống miền nam, ngươi có biết tại vì cớ gì không?

Tiêu Phong đáp:

- Cũng đang mong được bệ hạ chỉ thị cho rõ ràng.

Gia Luật Hồng Cơ cười nói:

- Chuyện thứ nhất là muốn được cùng hiền đệ gặp nhau cho bõ những ngày xa cách. Hiền đệ mới rồi đi qua phương tây, nước Tây Hạ hình thế khó hay dễ, binh mã yếu hay mạnh, ắt đã ghi nhớ trong lòng rồi. Theo ý kiến của hiền đệ, liệu có thu được Tây Hạ hay không?

Tiêu Phong bàng hoàng, nghĩ thầm: "Hoàng thượng đồ mưu quả không phải nhỏ, đã có bụng nam chiến Đại Tống, lại còn tính cả tây thu Tây Hạ". Ông liền đáp:

- Thần tử chuyến vừa qua tây du, chỉ định xem trò náo nhiệt công chúa Tây Hạ chiêu thân, đâu có nghĩ gì đến chiến trận công thủ. Bệ hạ minh giám, thần tử qua lại giang hồ lâu năm, cận chiến quyền cước thì cũng có chút kinh nghiệm, còn hành binh bố trận, thật chẳng biết tí gì.

Gia Luật Hồng Cơ cười đáp:

- Hiền đệ việc gì phải khiêm tốn quá như thế? Quốc vương Tây Hạ kỳ này đánh trống khua chiêng tuyển phò mã, ai ngờ đầu voi đuôi chuột, không đâu vào đâu, thật chẳng bõ cười. Biết vậy kỳ đó hiền đệ dẫn theo mười vạn tinh binh, lấy quách cô công chúa Tây Hạ đem về Nam Kinh, thế mới thật là hay đấy.

Tiêu Phong mỉm cười, nghĩ thầm: "Hoàng thượng cứ nghĩ binh hùng tướng mạnh trong tay là muốn gì được nấy". Gia Luật Hồng Cơ nói tiếp:

- Ca ca sở dĩ lần này xuống đây, ấy là để thăng tước thăng quan cho hiền đệ. Hiền đệ nghe đây.

Tiêu Phong đáp:

- Vi thần thụ ân như thế đã quá nhiều, không dám vọng tưởng ...

Gia Luật Hồng Cơ lớn tiếng nói:

- Nam Viện Đại Vương Tiêu Phong nghe đây!

Tiêu Phong chỉ đành nhảy xuống ngựa, quì phục xuống đất. Gia Luật Hồng Cơ nói:

Nam Viện Đại Vương Tiêu Phong tận trung thể quốc, phò tá trẫm như tay chân, nay thăng tước lên Tống Vương, Bình Nam đại nguyên soái, thống suất ba quân.

Khâm thử.

Tiêu Phong trong bụng ngần ngừ, không biết phải làm sao, nói:

- Vi thần không có công lao gì, thực không dám nhận trọng ân như thế.

Gia Luật Hồng Cơ lạnh lùng hỏi:

- Sao thế? Ngươi cự mệnh không nhận chăng?

Tiêu Phong thấy giọng y có vẻ gay gắt, biết rằng không thể nào từ chối, chỉ đành khấu đầu nói:

- Thần Tiêu Phong tạ ân.

Hồng Cơ cười ha hả nói:

- Có thế mới là hảo huynh đệ của ta chứ.

Y đưa tay đỡ Tiêu Phong dậy nói:

- Huynh đệ, ta lần này xuống nam không phải chỉ đến Nam Kinh mà còn muốn ngự giá đến tận Biện Lương.

Tiêu Phong lại càng kinh hãi, run run hỏi:

- Bệ hạ muốn đến Biện Lương? Chẳng ... chẳng phải là ...

Gia Luật Hồng Cơ cười nói:

- Huynh đệ là Bình Nam đại nguyên soái thống suất ba quân, vì ta đi trước, chúng mình đánh thẳng tới Biện Lương. Sau này hoàng cung của thằng nhãi Triệu Hú kia sẽ là phủ Tống Vương của hiền đệ.

---

Tiêu Phong hỏi lại:

- Thế có nghĩa là bệ hạ định khai chiến với Nam triều ư?

Hồng Cơ đáp:

- Không phải là ta muốn gây sự với Nam triều mà là bọn Nam man muốn cùng ta so tài cao thấp. Thời con mụ già thái hoàng thái hậu của Nam triều còn chấp chính, mọi việc chuyện gì đâu ra đó, ta tuy có bụng nam chinh nhưng không chắc ăn. Bây giờ bà lão đó chết rồi, thằng nhãi Triệu Hú miệng còn hôi sữa kia lại cho người sang dò thám phương bắc, huấn luyện quân đội, chiêu binh mãi mã, tích thảo đồn lương, ha ha, thằng nhãi đó không phải muốn đối phó ta thì còn ai nữa?

Tiêu Phong đáp:

- Nam triều huấn luyện sĩ tốt mình cũng chẳng cần phải để ý làm gì. Mấy năm qua Tống Liêu không giao tranh, hai nước thái bình, Triệu Hú đến xâm phạm thì mình sẽ đánh cho chúng một trận tan tành. Còn như nếu y sợ thanh uy của bệ hạ, không dám vọng động khinh suất thì mình cũng chẳng cần chấp nhất tên tiểu tử đó làm chi.

Gia Luật Hồng Cơ nói:

- Huynh đệ có chỗ chưa am tường, Nam triều đất rộng người đông, sản vật phong phú, nếu như có được một minh chúa, nhất định đối phó với Đại Liêu thì chúng ta không thể nào địch nổi. May sao gã Triệu Hú kia hành động càn rỡ, biếm trục trung thần, đến cả gã râu rậm họ Tô cũng bị đuổi rồi. Lúc này vua tôi không hòa thuận, lòng người không theo, quả đúng là cái cơ hội nghìn năm một thuở. Lúc này không khởi sự thì còn chờ đến bao giờ?

Tiêu Phong đưa mắt nhìn xuống phương nam, trước mắt như hiện ra một cảnh tượng huyễn ảo: Hàng nghìn hàng vạn quân Liêu đang ào ào tiến xuống, nhà cửa cháy ngút trời, bao nhiêu là nam phụ lão ấu rên xiết dưới vó ngựa, tên bay khắp nơi, binh lính Tống Liêu chém giết, xác người rơi từ trên mình ngựa xuống, máu hòa lẫn với nước sông cuốn đi, xương trắng đầy đồng ...

Gia Luật Hồng Cơ lớn tiếng nói:

- Liệt tổ tông người Khất Đan chúng ta ai ai cũng mong thu đất Nam triều vào bản đồ, nhưng mấy lần đều thất bại. Hôm nay mệnh trời đã đến, đại công sẽ thành ở trong tay ta. Hảo huynh đệ, tên vua tôi hai chúng ta sẽ mãi mãi ghi trong thanh sử, chẳng phải là chuyện hay lắm sao?

Tiêu Phong quì phục xuống, liên tiếp khấu đầu nói:

- Bệ hạ, vi thần có một việc khẩn cầu.

Gia Luật Hồng Cơ hơi kinh ngạc hỏi:

- Ngươi muốn điều chi? Nếu ca ca có thể làm được thì không chối từ một chuyện gì hết.

Tiêu Phong đáp:

- Xin bệ hạ vì muôn vạn sinh linh hai nước Tống Liêu, thu hồi thánh ý Nam chinh. Người Khất Đan chúng ta xưa nay sinh sống bằng đường du mục, dẫu có lấy được đất của Nam triều cũng chẳng làm gì. Huống chi binh đao là chuyện hung hiểm, chiến tranh là chỗ nguy nan đâu có nhất định chắc thắng, nếu như thất bại, lại khiến cho tổn thương đến uy danh của bệ hạ.

Gia Luật Hồng Cơ nghe giọng điệu của Tiêu Phong từ đầu chí cuối không muốn nam chinh, nghĩ đến vương công quí nhân, tướng soái đại thần Khất Đan trước nay hễ nghe đến "nam chinh" thì ai nấy nhảy cỡn lên reo hò, sao chỉ riêng Tiêu Phong lại ngăn trở? Y liếc nhìn Tiêu Phong thấy ông lông mày nhíu lại tỏ vẻ lo lắng nghĩ thầm: "Ta phong y làm Tống Vương, Bình Nam đại nguyên soái, ở Đại Liêu là một cao quan, chỉ dưới một người, ở trên vạn người, sao y lại không thấy vui là thế nào? Đúng rồi, y tuy là người Liêu nhưng từ bé được giống Nam man nuôi nấng lớn khôn, có thể nói một nửa là giống Nam man. Đại Tống là phụ

mẫu chi bang của y, nghe ta phát binh chinh phạt nên vội vàng hết sức ngăn trở. Xem như thế này, nếu ta miễn cưỡng ép y cầm binh tiến về nam, chỉ sợ y không tận lực". Y bèn nói:

- Ý định nam chinh của ta đã quyết rồi, huynh đệ không nên nhiều lời.

Tiêu Phong đáp:

- Chinh chiến là đại sự của quốc gia, xin bệ hạ suy nghĩ cho kỹ. Nếu như hoàng thượng nhất quyết nam chinh xin giao cho người hiền năng thì hơn. Để thần thống lãnh đại binh, e rằng làm hỏng việc của bệ hạ.

Phen này Gia Luật Hồng Cơ hùng hùng hổ hổ xuống phương nam, phong thưởng quyền cao tước trọng cho Tiêu Phong, sai ông thống suất hùng binh, ấy là nghĩ đến tình anh em kết nghĩa, ban cho Tiêu Phong một ân điển cực lớn, vẫn tưởng chắc ông sẽ sung sướng lắm, nào ngờ ông nói như thế chẳng khác nào đổ một thùng nước lạnh vào mặt mình, lại không chịu nhận chức Bình Nam đại nguyên soái, trong lòng hết sức bất mãn, lạnh lùng nói:

- Trong lòng ngươi Nam triều coi hơn cả nước Liêu ư? Ngươi thà trung với Nam triều chứ không chịu trung với Đại Liêu chăng?

Tiêu Phong lạy phục xuống nói:

- Bệ hạ minh giám. Tiêu Phong là người Khất Đan, dĩ nhiên phải trung với Đại Liêu rồi. Đại Liêu nếu gặp nguy nan, Tiêu Phong này dù phải nhảy vào nước sôi, xông vào lửa cháy, tận trung báo quốc, vạn tử bất từ.

Gia Luật Hồng Cơ hỏi:

- Thằng nhãi con Triệu Hú đã có bụng thôn tính lãnh thổ Đại Liêu. Người đời thường bảo: Tiên hạ thủ vi cường, hậu hạ thủ tao ương. Nếu chúng ta không tiên phát chế nhân, không chừng có cái họa vong quốc diệt chủng. Ngươi bảo là tận trung báo quốc, vạn tử bất từ, vậy sao ta bảo ngươi vì nước thống lĩnh hùng binh, ngươi lại không phụng mệnh?

Tiêu Phong đáp:

- Thần bình sinh giết người đã nhiều, thật không muốn hai tay dính thêm máu tanh nữa, xin bệ hạ bằng lòng cho thần từ quan, ẩn cư nơi rừng sâu núi thẳm.

Gia Luật Hồng Cơ nghe ông đòi từ quan, lại càng phẫn nộ, bụng nảy ra sát ý, tay liền để lên cán đao, muốn rút phắt ra chém đầu Tiêu Phong nhưng lập tức nghĩ lại: "Người này võ công ghê gớm, ta chém y một cái không chết thể nào cũng bị y làm hại. Huống chi trước đây y có công lớn dẹp loạn, lại cùng ta kết nghĩa anh em, bây giờ một lời không hợp đã giết công thần, như thế làm tổn đến ân đức". Y bèn thở dài một tiếng, buông cán đao ra nói:

- Ngươi với ta sở kiến không giống nhau, nhất thời không thể miễn cưỡng. Thôi ngươi quay về suy nghĩ lại cho kỹ, mong sẽ hồi tâm chuyển ý, nhận lệnh nam chinh.

Tiêu Phong tuy bái phục trên mặt đất nhưng người ở bên cạnh dù chỉ nhướng mày, giơ một ngón tay ông cũng đã cảnh giác ngay, huống chi Gia Luật Hồng Cơ tay để lên cán đao, trong lòng nổi ý định giết người thì làm gì ông không biết? Ông biết rằng nếu như mình còn nói thêm nữa, càng nói thì càng thêm hục hặc, e sẽ nghịch nhau bèn đáp:

- Tuân chỉ.

Ông liền đứng lên, dắt con ngựa của Gia Luật Hồng Cơ lại. Gia Luật Hồng Cơ không nói một lời, nhảy lên ngựa, phóng vụt đi. Lúc trước xuôi nam, hai người quân thần cưỡi ngựa song song nay trở về bắc người sau kẻ trước, cách nhau cả dặm. Tiêu Phong biết Gia Luật Hồng Cơ đã có bụng nghi mình, nếu đi quá gần không khỏi khiến y bất an mà lỡ đề cập đến chuyện nam chinh, không lẽ không trả lời nên chỉ theo ở xa xa.

Về đến thành Nam Kinh, Tiêu Phong mời Liêu đế vào ở trong vương phủ Nam Viện Đại Vương, Gia Luật Hồng Cơ cười đáp:

- Ta không đến làm phiền ngươi đâu, để ngươi bình tĩnh lại, suy nghĩ cho kỹ họa phúc lợi hại, ta quay về ngự doanh nghỉ được rồi.

Tiêu Phong liền cung kính tiễn Gia Luật Hồng Cơ trở về ngự doanh. Gia Luật Hồng Cơ đem từ Thượng Kinh rất nhiều bảo đao lợi kiếm, tuấn mã mỹ nữ ban thưởng cho ông, Tiêu Phong tạ ơn đem cả về vương phủ.

Tiêu Phong bình thời rất ít khi đích thân giải quyết chính vụ, các loại văn vật thư tịch không màng đến, thành ra vương phủ không có thư phòng. Ông chỉ thường cùng chư tướng ngồi bệt xuống trong đại sảnh, gọi đem rượu ra uống, cắt lấy thịt mà ăn, không mất cái phong vị hào sảng trước đây khi ở cùng bọn Cái Bang. Người Khất Đan sinh sống trong sa mạc, nơi trướng phủ cũng đều như thế, thấy đại vương cũng hòa hợp với mình, đối xử thân thiết nên ai nấy đều hoan hỉ.

Lúc Tiêu Phong từ ngự doanh trở về thì trời đã tối, vừa bước chân vào đại sảnh, đã thấy dưới ánh đuốc mỡ bò bập bùng, một thiếu nữ áo tím nằm phục trên tấm da hổ, chính là A Tử.

Nàng nghe tiếng chân người vội vàng nhỏm dậy, nhào tới ôm cổ Tiêu Phong, nhìn vào mắt ông hỏi:

- Em trở về tỉ phu có mừng không? Sao mặt mày lại có vẻ khó chịu như thế?

Tiêu Phong lắc đầu nói:

- Ta buồn là vì chuyện khác. A Tử, ngươi trở về, ta mừng lắm chứ. Ở trên đời này, ta chỉ còn khắc khoải một mình cô thôi, sợ không biết cô có gặp chuyện gì nguy hiểm không? Ngươi trở lại ở bên cạnh ta, mắt lại chữa khỏi rồi, chẳng còn gì phải lo lắng.

A Tử cười nói:

- Tỉ phu, không những mắt em khỏi rồi mà hoàng thượng lại còn phong em làm công chúa, anh có thấy vui không?

Tiêu Phong đáp:

- Có phong công chúa hay không thì tiểu A Tử vẫn là tiểu A Tử. Hoàng thượng cũng vừa thăng quan cho ta, ôi!

Ông vừa nói vừa thở dài sườn sượt, nhắc một chiếc túi da bò đựng đầy rượu lên, mở nắp tu một hơi. Trong đại sảnh chỗ nào cũng để toàn là túi rượu, mỗi khi Tiêu Phong thèm là uống, chẳng cần ai phục dịch. A Tử cười nói:

- Chúc mừng tỉ phu được thăng quan.

Tiêu Phong lắc đầu nói:

- Hoàng thượng phong ta làm Tống Vương, Bình Nam đại nguyên soái, sai ta đem binh đi công đả Nam triều. Ngươi thử nghĩ xem, một khi chinh chiến thì biết bao nhiêu quan quân bách tính sẽ phải chết? Ta không chịu bái mệnh, thành thử hoàng thượng bực tức lắm.

A Tử đáp:

- Tỉ phu quả là quái lạ. Tiểu muội nghe nói ở Tụ Hiền Trang tỉ phu đã từng giết vô số hào kiệt Trung Nguyên, chẳng thấy thở dài chút nào. Bọn man tử võ lâm Trung Nguyên ức hiếp anh đến thế, hôm nay được hoàng thượng cho thổ khí dương mi, sai suất lãnh đại quân về giết sạch sành sanh bọn khốn kiếp đó, đại ca lại không vui là sao?

Tiêu Phong giơ chiếc bao da lên uống một ngụm lớn, lại thở dài một tiếng nói:

- Hôm đó ta và tỉ tỉ ngươi bị họ vây đánh, nếu không hết sức chiến đấu thì sẽ bị loạn đao phân thi, đó là thế chẳng đặng đừng. Hôm đó những người bị ta giết có vô số bạn cũ của ta, sau này nghĩ lại trong lòng hết sức xót xa.

A Tử kêu lên một tiếng:

- Ồ, tiểu muội biết rồi, năm xưa tỉ phu vì chị A Châu nên mới đành lòng giết người. Thế như bây giờ tiểu muội năn nỉ tỉ phu đi giết bọn man tử Nam triều, liệu có được không?

Tiêu Phong lườm cô ả, gắt lên:

- Mạng người là chuyện lớn, vậy mà ngươi nói ra tưởng như giết bò giết cừu không bằng. Cha ngươi tuy là người Đại Lý nhưng mẹ ngươi cũng là người nước Tống Nam triều.

A Tử bĩu môi quay mặt đi nói:

- Tiểu muội đã biết trong lòng tỉ phu, dù một nghìn em cũng chẳng bằng được chị ấy, một vạn A Tử sống cũng chẳng bằng được một A Châu đã qua đời. Xem ra chỉ có nước em chết quách cho xong, lúc đó anh mới mủi lòng được một chút. Giá biết thế ... em ... em chẳng hơi đâu phải đường sá xa xôi lặn lội đi tìm anh. Anh ... anh có bao giờ coi ai ra gì đâu?

Tiêu Phong nghe nàng nói giọng lưỡi ra chiều u oán, không khỏi bàng hoàng, nhớ đến khi trước cô ta phát xạ độc châm ám toán mình, cũng chỉ cốt để mình mãi mãi ở bên cạnh nàng, bèn đáp:

- A Tử, ngươi còn nhỏ, chỉ được cái bướng bỉnh ngang ngược, không hiểu chuyện người lớn ...

A Tử cướp lời:

- Cái gì mà người lớn với chẳng trẻ con? Em không còn là con nít nữa. Tỉ phu đã nhận lời tỉ tỉ lo liệu cho em, anh ... anh chỉ lo cho em cơm ăn, áo mặc, chứ có ... chứ có bao giờ lo đến lòng dạ em đâu? Anh có bao giờ hỏi đến tâm sự em thế nào đâu?

Tiêu Phong càng nghe càng thêm kinh hoảng, không dám tiếp lời. A Tử quay lưng lại, nói tiếp:

- Khi mắt em bị mù, em biết là tỉ phu sẽ chẳng bao giờ thích em nên có dám gần gũi đâu? Bây giờ mắt em sáng lại rồi, anh cũng chẳng thèm ngó ngàng gì đến, em ... em có chỗ nào không bằng A Châu? Mặt mũi không xinh đẹp ư? Hay là không thông minh bằng? Cũng bởi vì chị ấy chết rồi nên anh mới ngày đêm khắc khoải. Em ... em ... tiếc thay hôm đó không bị anh một chưởng đánh chết, như thế anh sẽ mãi mãi nhớ đến em như nhớ A Châu ...

Nàng nói đến tâm sự đau lòng đó, đột nhiên quay lại sà vào lòng Tiêu Phong, khóc nức nở. Tiêu Phong lúng túng, không biết phải nói thế nào cho phải.

A Tử thút thít một hồi rồi nói:

- Thế tiểu muội còn trẻ con ở chỗ nào? Hôm ở bên chiếc cầu đêm mưa bão sấm sét, thấy anh đánh chết chị em rồi, khóc lóc thật não lòng, em cảm thấy thương mến không biết chừng nào. Em tự nhủ: "Đại ca chẳng nên khổ sở như thế. Không có A Châu thì em sẽ là A Châu, hết lòng hết dạ yêu thương anh". Em đã nhất định rồi, nguyện sẽ suốt đời ở bên anh. Thế nhưng đại ca lại cứ duỗi ra khiến tiểu muội phải tự nói với mình: "Giỏi nhỉ, anh không cho tôi đi theo, đã thế tôi sẽ làm cho anh tàn phế, mọi việc sẽ phải tùy thuộc vào tôi, sẽ phải theo tôi mãi mãi".

Tiêu Phong lắc đầu:

- Chuyện cũ không cần phải nhắc lại nữa.

A Tử gắt lên:

- Sao lại là chuyện cũ? Trong lòng em thì lúc nào nó cũng như mới ngày hôm nay. Em không nói với tỉ phu nữa, xưa nay anh vẫn nào có coi em ra gì đâu?

Tiêu Phong nhẹ nhàng vuốt mái tóc mềm mại của cô gái nói khẽ:

- A Tử, tuổi của ta hơn gấp đôi tuổi cô, lo liệu cho cô như chú như anh. Trong đời ta chỉ yêu thương có một người con gái, đó là chị cô thôi. Mãi mãi sẽ không có người đàn bà nào thay thế cho A Châu được, ta cũng quyết không yêu thương một người thứ hai nào. Hoàng thượng ban cho ta hơn một trăm mỹ nữ, đến nay ta cũng chưa nhìn thẳng vào mặt người nào. Ta lo lắng cho cô cũng chỉ vì A Châu mà thôi.

A Tử tức tối, đột nhiên giơ tay tát bốp một cái lên mặt Tiêu Phong. Tiêu Phong nếu như muốn tránh thì chưởng đó làm sao trúng mặt được? Chỉ vì ông thấy A Tử tức giận đến mặt tái nhợt, trong ánh mắt đầy vẻ thê lương, càng nhìn càng thấy xót xa nên không tránh né để nàng tát một cái cho hả dạ.

A Tử đánh được một cái lại đâm hối hận, kêu lên:

- Tỉ phu, em quả là tệ hại, anh ... anh đánh lại đi, đánh lại đi!

Tiêu Phong nói:

- Thế chẳng phải tính trẻ con thì là gì? A Tử, trên đời này có chuyện gì gọi là lớn đâu, cũng chẳng phải đau lòng đến thế. Sao ánh mắt ngươi lại có vẻ bi thương như vậy? Tỉ phu là một hán tử thô lỗ, ngươi quả như muốn bầu bạn với ta thì chỉ thêm bực mình.

A Tử đáp: - Có thực mắt em tỏa ra vẻ bi thương đau đớn hay chăng? Ôi, cũng tại cái tên xú bát quái đó làm khổ em.

Tiêu Phong hỏi lại:

- Cái gì mà bảo tên xú bát quái đó làm khổ ngươi?

A Tử đáp:

- Đôi mắt của em đây, chính là của tên đầu sắt xấu như ma cho em đó.

Tiêu Phong nhất thời chưa rõ nàng nói chuyện gì nên nhắc lại:

- Tên đầu sắt? Xấu như ma?

A Tử đáp:

- Cái gã bang chủ Cái Bang Trang Tụ Hiền, tỉ phu có biết đó là ai không? Nói ra quả khiến người ta cười đến vỡ bụng, y chính là kẻ em đã đeo cho một cái mặt nạ sắt Du Thản Chi. Y chính là con của nhị trang chủ Tụ Hiền Trang Du Câu, đã từng dùng vôi bột ném vào anh đó. Cũng chẳng biết y học ở đâu được môn võ công cổ quái cứ lẽo đẽo theo em, cố hết sức làm cho em vui lòng. Em bị y đánh lừa thật khổ quá, khi đó mắt em mù, cũng chẳng ai săn sóc nên cứ một Trang công tử ơi, hai Trang công tử hỡi. Bây giờ nghĩ lại thật là mắc cở.

Tiêu Phong lạ lùng:

- Thì ra gã Trang bang chủ của Cái Bang chính là người bị ngươi bắt làm Thiết Sửu, thảo nào mặt mày đầy sẹo, chắc là lúc y gỡ chiếc mặt nạ ra nên mới bị thương. Gã hề sắt đó là Du Thản Chi đấy sao? Ôi, ngươi quả thực tai quái hết cỡ, hành hạ người ta đến mức ấy. Gã đó không thù ngươi, lại chăm lo săn sóc ngươi, quả là hiếm có.

A Tử cười khẩy đáp:

- Hứ, cái gì mà hiếm có? Y có tốt lành gì đâu? Y chỉ muốn em lấy y đấy thôi.

Tiêu Phong nhớ lại tình cảnh ánh mắt Du Thản Chi nhìn A Tử trên núi Thiếu Thất quả là đầy mối thâm tình, có điều khi ấy ông không chú ý bèn nói:

- Ngươi biết rõ mọi sự rồi, tức quá liền giết y đi rồi móc hai mắt y chứ gì?

A Tử lắc đầu:

- Không phải, em nào có giết y, đôi mắt này do y tự nguyện cho em đó.

Tiêu Phong lại càng không hiểu:

- Vì cớ gì y lại bằng lòng móc mắt mình ra đem cho ngươi?

A Tử đáp:

- Quả thực chưa thấy ai ngu như gã này. Tiểu muội cùng y đến Phiêu Miểu Phong cung Linh Thứu rồi, tìm được nghĩa đệ của tỉ phu là Hư Trúc Tử, nhờ ông ta chữa mắt. Hư Trúc Tử lục sách thuốc đọc thật kỹ, nói là phải kiếm cho được mắt người sống còn tươi thay vào mới được.

Trên cung Linh Thứu ai ai cũng là hạ thuộc của Hư Trúc Tử, em có cầu y chữa, y cũng chẳng bằng lòng móc mắt họ ra. Em lại bảo Du Thản Chi xuống dưới núi bắt một người nào đó đem lên thì gã liền khóc lóc, bảo là sau khi em chữa khỏi mắt rồi, nhìn rõ bộ mặt của hắn sẽ không còn ngó ngàng gì đến y nữa. Em bảo em sẽ không bỏ y, y không tin.

Có ngờ đâu y kiếm một con dao đến tìm Hư Trúc Tử nguyện ý tặng đôi mắt cho em. Hư Trúc Tử nhất định không chịu, gã đầu sắt liền lấy dao rạch ngang vạch dọc mấy đường trên người, trên mặt mình bảo là nếu Hư Trúc Tử không bằng lòng y sẽ tự sát ngay. Hư Trúc Tử không biết làm sao, chỉ đành lấy đôi mắt y thay vào cho em.

Nàng kể có vẻ giản dị tưởng như một chuyện thật bình thường nhưng Tiêu Phong nghe rồi hết sức kinh hãi, những chuyện hung hiểm kinh tâm động phách ông từng trải cũng không sao hơn được. Hai tay ông run run, bịch một tiếng vứt túi ruợu trên tay xuống nói:

- A Tử, có thật Du Thản Chi cam tâm tình nguyện đem đôi mắt thay cho ngươi hay chăng?

A Tử đáp: - Đúng vậy.

Tiêu Phong nói:

- Ngươi ... ngươi quả là lòng lim dạ đá, người ta đem đôi mắt cho ngươi mà ngươi cũng nhận hay sao?

A Tử nghe ông nói có vẻ gay gắt, mắt chớp chớp, lại muốn khóc, đột nhiên nói:

- Tỉ phu, nếu như mắt anh bị mù thì em cũng cam tâm tình nguyện đem mắt tặng cho anh ngay.

Tiêu Phong nghe nàng nói thật hết sức sắt đá, không phải chuyện đùa, trong lòng hết sức cảm động, dịu dàng nói:

- A Tử, vị Du quân đó đối với ngươi một mối thâm tình, ngươi quả là có phúc mà không biết hưởng. Ngoài y ra trên đời này kiếm đâu ra được một tình lang như thế nữa? Hiện giờ y đang ở đâu?

A Tử đáp:

- Hẳn y vẫn còn ở cung Linh Thứu. Y không có mắt, ngọn Phiêu Miểu hiểm trở như thế làm sao xuống được?

Tiêu Phong nói:

- Ồ, không chừng nhị đệ đã kiếm được mắt của một tử tù nào thay mắt cho y rồi.

A Tử đáp:

- Không thể được, chú tiểu đó ... ấy quên, Hư Trúc Tử có nói, mắt của tiểu muội chỉ bị lão tặc Đinh Xuân Thu làm hỏng giác mạc nhưng cân mạch không sao thành ra mới thay được. Thiết Sửu thì mắt bị móc ra rồi, gân mạch đứt hết, không thể nào thay được nữa.

Tiêu Phong nói:

- Vậy ngươi mau mau trở lại bầu bạn với y, từ nay không bao giờ rời xa y nữa.

A Tử lắc đầu:

- Tiểu muội không đi, em chỉ đi theo tỉ phu thôi, cái thứ người xấu như yêu quái kia, trông thấy đã buồn nôn, ai lại ở với hạng người như thế bao giờ?

Tiêu Phong giận dữ nói:

- Người ta mặt mũi tuy xấu nhưng lòng dạ còn đẹp gấp trăm lần ngươi. Ta không cần ngươi phải ở với ta, không muốn thấy mặt ngươi nữa.

A Tử dậm châm khóc òa lên:

- Em ... em ...

Chỉ nghe ngoài cửa có tiếng chân người, hai tên vệ sĩ cùng hô lớn:

- Thánh chỉ đến!

Sau đó sảnh môn mở ra, Tiêu Phong và A Tử cùng quay lại, thấy một sứ giả của hoàng đế đang tiến vào. Lễ nghi triều đình nước Liêu không phiền phức như của Đại Tống, thần tử trông thấy sứ giả của nhà vua, chỉ cần đứng thẳng nghe đọc thánh chỉ, không phải chạy đi thay triều phục, bày hương án, quì xuống tiếp chỉ. Gã sứ giả lớn tiếng đọc:

- Hoàng thượng cho gọi Bình Nam công chúa kiến giá.

A Tử đáp:

- Vâng!

Nàng vội vàng quệt nước mắt, theo sứ giả đi ra. Tiêu Phong nhìn theo sau lưng A Tử, nghĩ thầm: "Gã Du Thản Chi đối với cô nàng tình ái thâm trọng, trên đời xưa nay hiếm có. Chỉ vì ta đối với A Tử là mối tình đầu, lại ở bên cạnh ngày đêm không rời, sau khi nàng trọng thương, chẳng tị hiềm nam nữ, hết sức chiếu liệu, thành thử cô ả mới nảy sinh ra một tình quyến luyến thật trẻ con. Ta phải làm thế nào khuyên A Tử quay trở lại bên cạnh Du quân chứ người ta đối với cô nàng như thế, một người đã móc mắt tặng cho mình bây giờ bỏ rơi thì trời đất còn dung sao được".

Tiếng chân của sứ giả và A Tử xa dần, sau cùng không còn nghe thấy nữa, lại nhớ đến chỉ ý của Gia Luật Hồng Cơ sai mình đi chinh phạt Tống triều: "Hoàng thượng gọi A Tử có chuyện gì thế nhỉ? Chắc là bảo nàng khuyên ta nhận lời chinh phạt nhà Tống. Nếu như ta nhất quyết không phụng chiếu thì còn gì là quốc pháp nữa? Vừa rồi ở nam giao tranh chấp, hoàng thượng để tay lên cán đao, đã toan giết ta, có lẽ còn nghĩ tình quân thần, nghĩa huynh đệ mà phải cố khắc chế. Nếu như ta phụng mệnh phạt Tống, đem binh sang giết hàng nghìn hàng vạn người thì sao đành lòng? Huống chi cha ta đang xuất gia ở chùa Thiếu Lâm, nghe tin ta đem quân xuống phương nam, ắt sẽ thất vọng lắm. Ôi, nếu ta kháng lại mệnh vua thì là kẻ bất trung, không coi tình kim lan vào đâu thì là bất nghĩa, còn như tấn công xuống phương nam, tàn sát bách tính thì lại là kẻ bất nhân, vi phạm vào chí hướng của cha thì là kẻ bất hiếu. Trung hiếu nan toàn, nhân nghĩa không thể hai bề vẹn cả, bây giờ mình phải làm sao? Bỏ, bỏ, bỏ đi thôi! Cái chức Nam Viện Đại Vương này ta không thèm làm nữa, chi bằng treo ấn đóng kho, không từ biệt hoàng thượng mà đi là xong. Thế nhưng đi đâu bây giờ? Trời đất mang mang, sao lại không có chỗ cho Tiêu Phong này dung thân?".

Ông cầm chiếc túi rượu lên tu hai ngụm, nghĩ thầm: "Thôi mình đợi A Tử về, cùng nàng đi lên Phiêu Miểu Phong, một là đưa nàng đến gặp Du quân, hai là cùng nhị đệ hàn huyên một chuyến, sau đó tính lại".

A Tử theo sứ giả đi tới ngự doanh, vừa gặp Gia Luật Hồng Cơ đã lanh chanh nói ngay:

- Hoàng thượng, cái tước Bình Nam công chúa ban cho tiểu nữ, tiểu nữ không nhận đâu.

Gia Luật Hồng Cơ cho đòi A Tử đến quả đúng như Tiêu Phong dự liệu, chính là để bảo nàng khuyên Tiêu Phong phụng chỉ nam chinh, gặp nàng chưa gì đã nói phủ đầu như thế không khỏi nhíu mày, hậm hực nói:

- Triều đình phong thưởng là chuyện quốc gia đại sự, chứ có phải trò đùa của trẻ con đâu mà để ngươi thích thì lấy, không thích thì thôi.

Ông vốn dĩ nghĩ đến cái tình với Tiêu Phong, yêu ai yêu cả đường đi, thành thử đối với A Tử luôn luôn dịu ngọt, bây giờ nói thế là nặng lắm rồi. A Tử oa lên một tiếng khóc hu hu. Gia Luật Hồng Cơ giậm chân quát:

- Quá lắm rồi! Quá lắm rồi! Chẳng ra thể thống gì cả.

Bỗng nghe từ sau trướng có tiếng đàn bà yểu điệu nói:

- Hoàng thượng, sao lại giận thế? Lẽ nào lại dọa một cô bé con đến khóc òa lên thế kia?

Kế đó nghe tiếng vòng kêu leng keng, một phụ nữ sang trọng đủng đỉnh đi ra. Người đàn bà đó đôi mắt long lanh, vừa chải đầu vừa cười nửa miệng, A Tử nhận ra đó chính là Mục quí phi, người được hoàng thượng sủng ái nhất, liền sụt sùi nói:

- Mục quí phi, tỉ tỉ lại đây xem thử có công bình không nào? Tiểu muội chỉ nói là không nhận chức Bình Nam công chúa, thế mà hoàng thượng liền la tiểu muội ngay.

Mục quí phi thấy nàng khóc lóc thật đáng thương, hai người đã lâu không gặp, thân hình A Tử đã cao lớn hơn nhiều, mặt mày cũng thêm xinh đẹp, bèn nháy mắt cho Gia Luật Hồng Cơ, nhếch mép cười nói:

- Hoàng thượng, nếu cô ấy không chịu làm Bình Nam công chúa thì hoàng thượng phong cho cô ấy làm Bình Nam quí phi đi.

Gia Luật Hồng Cơ vỗ đùi quát:

- Chỉ nói xàm! Ta phong cho đứa bé này là vì Tiêu Phong huynh đệ, một người là Bình Nam đại nguyên soái, một người là Bình Nam công chúa để cho hai người nở mày nở mặt mà thành hôn. Có ngờ đâu Tiêu Phong không chịu làm Bình Nam đại nguyên soái, còn cô nhỏ này thì không chịu làm Bình Nam công chúa. Phải rồi, ngươi là người nam man nên không chịu vì ta mà bình nam, phải vậy không?

Trong giọng nói có ẩn ý uy hiếp. A Tử đáp:

- Tiểu nữ chẳng cần biết bình nam hay không bình nam! Bệ hạ bình đông cũng được, bình tây cũng được, tiểu nữ chẳng cần biết đến. Có điều tỉ phu của tiểu nữ ... tỉ phu lại ép tiểu nữ lấy một gã mù hai mắt xấu như ma.

Hồng Cơ và Mục quí phi hai người nghe thế hết sức lạ lùng, cùng hỏi:

- Sao thế?

A Tử không muốn nói rõ đầu đuôi, chỉ đáp:

- Tỉ phu không thích tiểu nữ nên ép lấy người khác.

Ngay khi đó, ngoài trướng có người gọi nhỏ:

- Hoàng thượng!

Gia Luật Hồng Cơ đi ra thấy tên vệ sĩ thân tín của Tiêu Phong, gã kia nói nhỏ:

- Khải bẩm hoàng thượng: Tiêu đại vương dán một bao thư bên ngoài kho, còn chiếc ấn vàng dùng vải bao lại treo tại xà nhà, xem như thế, chắc ... chắc là có ý bỏ đi không từ biệt rồi.

Gia Luật Hồng Cơ nghe thế, lập tức nổi cơn thịnh nộ kêu lên:

- Phản rồi, phản rồi! Y có còn coi ta là hoàng đế nữa hay thôi?

Y suy nghĩ rồi nói:

- Mau triệu Đô Chỉ Huy ngự doanh lại đây.

Chỉ giây lát Đô Chỉ Huy ngự doanh đã đến nơi. Gia Luật Hồng Cơ nói:

- Ngươi dẫn binh mã, vây bốn phía Nam Viện vương phủ lại cho ta.

Y lại hạ chỉ:

- Truyền lệnh đóng chặt cửa thành, không cho bất cứ ai xuất nhập.

Y lại sợ Tiêu Phong dẫn binh làm phản nên không ngớt ra lệnh, truyền cho các đại tướng bộ hạ của Nam Viện đại vương đến chầu. Mục quí phi ở trong trướng nghe thấy tiếng tù và bên ngoài từng hồi nổi lên không dứt, tiếng vó ngựa lộp cộp, hiển nhiên đang có biến cố. Người Khất Đan giới hạn nam nữ rất nhẹ nên bà ta liền đi ra ngoài hỏi nhỏ Gia Luật Hồng Cơ:

- Bệ hạ, có chuyện gì thế? Làm gì mà nộ khí xung thiên như vậy?

Gia Luật Hồng Cơ giận dữ đáp:

- Gã Tiêu Phong không biết phải quấy, toan tính phản ta bỏ đi. Gã này lòng vẫn hướng về Nam triều, chắc hẳn định báo cho bọn Nam man. Y biết nhiều chuyện quân quốc bí mật của Đại Liêu, nếu sang Tống triều sẽ trở thành mối lo trong gan ruột.

Mục quí phi trầm ngâm nói:

- Từng nghe bệ hạ nói rằng, người đó võ công ghê gớm lắm, nếu như không bắt được, để y thoát vòng vây thì quả là mầm họa lớn.

Gia Luật Hồng Cơ đáp:

- Chính thế.

Y quay sang nói với vệ sĩ:

- Truyền lệnh Phi Long Doanh, Phi Hổ Doanh, Phi Báo Doanh, hỏa tốc đến tăng viện cho Nam Viện Đại Vương phủ.

Ngự doanh vệ sĩ nghe lệnh vội vàng truyền xuống. Mục quí phi lại nói:

- Bệ hạ, thiếp có một kế.

Bà ta ghé tai Gia Luật Hồng Cơ nói một hồi. Gia Luật Hồng Cơ gật gù:

- Sử dụng được đấy. Nếu việc này xong, trẫm sẽ trọng thưởng.

Mục quí phi mỉm cười nói:

- Chỉ cần bệ hạ vui lòng, đó là trọng thưởng rồi. Bệ hạ đãi thiếp như thế này còn mong mỏi gì hơn nữa?

Việc điều động binh mã ngự doanh bên ngoài tuy A Tử ngồi trong trướng nhưng chẳng thèm để ý. Người Khất Đan hò hét chạy qua chạy lại xưa nay nàng nghe đã nhiều, mỗi khi ra ngoài đi săn cũng đã rầm rĩ lên rồi, có biết đâu là Gia Luật Hồng Cơ đang chỉ huy lùng bắt Tiêu Phong. Nàng ngồi trên một chiếc yên lạc đà, bụng dạ rối bời: "Lòng ta đối với tỉ phu đâu phải là anh ta không biết, chỉ có điều ... có điều y không để ý đến ta đấy thôi, lại bảo ta đi bầu bạn với tên người không ra người, ngợm không ra ngợm kia. Ta ... ta thà chết còn hơn chứ nhất định không chịu, không chịu, muôn vạn lần không chịu". Trong bụng nàng nghĩ như thế, bàn chân không ngớt đá vào hình đầu con hổ dệt trên tấm thảm lót dưới sàn.

Đột nhiên có một bàn tay nhẹ nhàng để lên vai nàng, A Tử hoảng hốt ngẩng đầu lên, nhận ra đôi mắt dịu dàng thân mật của Mục quí phi, nghe bà ta cười hỏi:

- Tiểu muội muội nghĩ ngợi gì mà thẫn thờ như thế? Lại nghĩ đến tỉ phu có phải không?

A Tử nghe nhắc đến tâm sự của mình, tự nhiên bẽn lẽn cúi đầu không nói. Mục quí phi ngồi xuống ngang với nàng, cầm bàn tay nhẹ nhàng vuốt ve, nhỏ nhẹ nói:

- Tiểu muội muội, đàn ông người nào cũng thô lỗ nóng nảy, hoàng thượng đây cũng như Nam Viện Đại Vương, hai người đều là anh hùng hảo hán đương thế, muốn thu phục họ quả không dễ chút nào.

A Tử gật đầu thấy bà ta nói quả là hữu lý. Mục quí phi lại tiếp:

- Đàn bà trong cung hàng trăm hàng nghìn, thiếu gì kẻ đẹp hơn chị, chiều chuộng hoàng thượng hơn chị. Thế nhưng hoàng thượng sủng ái chị hơn cả, tuy một phần cũng là duyên phận nhưng một phần cũng là do vị lão hòa thượng chùa Thánh Đức ở Thượng Kinh chiếu cố. Tiểu muội tử, hiện giờ lòng của tỉ phu không quyến luyến em thì cũng chẳng nên rầu rĩ. Đợi khi về Thượng Kinh rồi, em đi với chị đến chùa Thánh Đức xin với vị cao tăng kia may ra ngài có giúp được chăng?

A Tử lạ lùng hỏi:

- Thế lão hòa thượng kia có cách gì thế?

Mục quí phi đáp:

- Việc này chị nói riêng với em, em không được nói cho một người thứ hai nào biết. Em phải thề độc quyết không tiết lộ bí mật mới được.

A Tử liền nói:

- Nếu tôi đem bí mật của Mục quí phi nói cho ai nghe thì sẽ bị loạn đao phân thi, chết không yên lành.

Mục quí phi trầm ngâm rồi nói:

- Không phải chị không tin em có điều việc này liên hệ rất lớn, em phải thề độc một lần nữa.

A Tử lại nói:

- Được, nếu như em tiết lộ việc bí mật chị nói cho em hay, thì em.. thì em sẽ bị tỉ phu một chưởng đánh chết tươi.

Nàng nói tới đây, trong lòng vừa ngọt ngào lại vừa chua chát. Mục quí phi gật đầu nói:

- Bị một người mình thương yêu một chưởng đánh chết còn thê thảm gấp trăm lần loạn đao phân thi. Vậy thì chị tin em rồi. Hảo muội tử, vị cao tăng đó Phật pháp vô biên, thần thông quảng đại, sau khi ta quì xuống khẩn cầu, ông ta cho chị hai lọ nước thánh, bảo chị thành tâm khấn vái cầu xin, len lén cho người mình thương yêu uống một bình. Người đàn ông đó từ nay sẽ mãi mãi thương yêu, đến chết cũng không thay đổi. Ta đã cho hoàng thượng uống một lọ rồi, nay còn lại một bình.

Bà ta nói xong lấy trong túi ra một cái bình sứ màu hồng, nắm chặt trong tay, dường như sợ mất. Thực ra dưới sàn trải thảm thật dày, dẫu có rơi cũng chẳng hề chi. A Tử vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ, cầu khẩn:

- Hảo tỉ tỉ, chị cho em xem đi.

Nàng từ nhỏ đã làm môn hạ phái Tinh Tú những loại bùa mê thuốc lú hớp hồn người ta nàng vốn tin sẵn từ lâu. Mục quí phi nói:

- Xem thì được nhưng đừng làm đổ đấy nhé.

Hai tay cầm chặt, trịnh trọng đưa ra. A Tử cầm lấy, mở nắp ra đưa lên mũi ngửi, thấy có mùi thơm nhè nhẹ. Mục quí phi vội đưa tay lấy lại, đóng nắp, vặn kỹ mấy lần, dường như sợ dược tính bay mất nói:

- Thực ra chị có chia cho em cũng chẳng hề chi. Có điều chị sợ nếu như hoàng thượng thay lòng đổi dạ thì phải dùng đến thứ nước thánh này.

A Tử nói: - Chị đã bảo hoàng thượng uống một lọ rồi thì vĩnh viễn không thay đổi mà?

Mục quí phi mỉm cười đáp:

- Nói thì thế nhưng làm sao biết được thứ nước thánh này có hiệu quả bao lâu, nếu không vị thánh tăng kia sao lại cho chị đến hai lọ? Chị cũng sợ nếu như nước thánh lạc vào tay một phi tần khác, họ lại len lén cho hoàng thượng uống, hoàng thượng đối với chị dẫu không đổi dạ nhưng e lại hai lòng ...

Vừa nói tới đây bỗng có tiếng Gia Luật Hồng Cơ ở ngoài trướng gọi lớn:

- A Mục, nàng ra đây. Ta có chuyện muốn nói.

Mục quí phi liền đáp:

- Thiếp ra đây.

Bà ta lật đật đi ra, cạch một tiếng nhẹ, chiếc bình sứ từ trong bọc rơi ra, nhưng nào có biết gì đâu. A Tử mừng rỡ, đợi cho bà ta ra khỏi trướng, vội vàng nhỏm dậy nhặt chiếc bình lên, bỏ luôn vào túi nghĩ bụng: "Mình mau mau cho tỉ phu uống, sau đó lấy nước lạnh đổ vào, trả lại cho Mục quí phi. Thực ra hoàng thượng đã sủng ái bà ta lắm rồi, thứ nước thánh này đâu có còn cần nữa". Nàng nghĩ vậy rồi mở phía sau len lén bò ra, chạy vụt trở về Nam Viện Đại Vương phủ.

Chỉ thấy xung quanh vương phủ sĩ tốt tràn ngập tưởng chừng Nam Viện Đại Vương đang điều động binh mã. A Tử vào đến đại sảnh đã thấy Tiêu Phong chắp tay sau lưng, đang đi qua đi lại trước hàng hiên, ra vẻ sốt ruột lắm. Ông vừa trông thấy A Tử mừng rỡ kêu lên:

- A Tử, ngươi đã trở về, thật tốt quá. Ta chỉ sợ ngươi bị hoàng thượng bắt giữ rồi không chạy thoát được. Mình phải đi ngay, nếu chậm trễ e không kịp.

A Tử ngạc nhiên hỏi:

- Đi đâu bây giờ? Sao lạ sợ trễ thì không kịp? Vì cớ gì mà hoàng thượng lại bắt em?

Tiêu Phong đáp:

- Ngươi nghe thì biết.

Hai người yên lặng lắng tai thấy chung quanh vương phủ tiếng vó ngựa rầm rập, rồi tiếng áo giáp loảng xoảng, binh khí leng keng, bốn bề đông nam tây bắc chỗ nào cũng có. A Tử hỏi:

- Sao thế? Tỉ phu định đem quân đi đánh trận hay sao?

Tiêu Phong gượng cười:

- Những binh lính này đâu phải do ta điều động đâu. Hoàng thượng có ý nghi ta nên sai người đến bắt đó.

A Tử reo lên:

- Hay lắm! Mình lâu ngày không đánh nhau, hai người mình xung sát vượt vòng vây nhé.

Tiêu Phong lắc đầu:

- Hoàng thượng đãi ta ân đức không phải nhỏ, phong làm Nam Viện Đại Vương, lần này lại đích thân đến đây để thăng quan tiến tước cho ta, bây giờ sở dĩ nghi ngờ, cũng bởi vì ta nhất quyết không chịu nam chinh. Nếu ta sát hại bộ thuộc của y thì làm mất đi tình huynh đệ khiến cho anh hùng thiên hạ chê cười, bảo Tiêu Phong này vong ân phụ nghĩa, đối xử không ra gì. A Tử, thôi mình đành đi vậy, len lén bất biệt nhi hành, để y khỏi bắt được ta thế cũng xong thôi.

A Tử đáp:

- Ừ đi thì đi. Tỉ phu, thế mình đi đâu đây?

Tiêu Phong đáp:

- Sự tình khẩn cấp, có đến được Phiêu Miểu Phong hay không, phải qua khỏi nơi hiểm địa rồi mới biết được.

A Tử nghĩ thầm: "Thì ra anh chàng định đưa mình đến ngọn Phiêu Miểu, đủ biết chẳng coi ta vào đâu, vậy mình phải cho y uống nước thánh mới xong. Chỉ cần làm sao cho anh ta thương yêu mình, nghe lời mình là được. Nếu còn chần chừ, e rằng Mục quí phi đến lấy lại mất". Nàng bèn nói:

- Cũng được, để em đi lấy mấy bộ quần áo.

Nói xong nàng lật đật đi vào hậu đường, lấy một chiếc chén, đổ nước thánh trong chiếc lọ ra, rồi rót thêm rượu vào cho đầy, trong bụng khấn nguyện: "Xin Bồ Tát linh thiêng phù hộ cho Tiêu Phong sau khi uống nước thánh rồi, hết lòng hết dạ yêu thương A Tử, lấy thiếp làm vợ, không còn nhớ gì đến A Châu tỉ tỉ nữa". Nàng quay lại đại sảnh nói:

- Tỉ phu uống chút rượu cho lên tinh thần. Lần này mình đi sẽ không bao giờ còn quay trở lại nữa.

Tiêu Phong cầm lấy bát rượu, dưới ánh đuốc thấy bàn tay A Tử run run, ánh mắt lộ vẻ khác thường, mặt mày lại ra chiều phấn khởi, đầy vẻ ôn nhu, trong lòng không khỏi xúc động: "Năm xưa A Châu đối với ta hết lòng thương mến, vẻ mặt cũng như thế này. Ôi, xem ra A Tử quả thực hết dạ say mê ta rồi". Ông liền cầm bát rượu lên uống một hơi cạn sạch hỏi thêm:

- Ngươi đã lấy đủ quần áo chưa?

A Tử thấy Tiêu Phong đã uống hết thánh thủy, trong bụng mừng rỡ nói:

- Thôi chẳng cần lấy quần áo, mình đi được rồi.

Tiêu Phong đeo một cái bao lên lưng, trong túi chỉ có vài bộ quần áo, ít tiền bạc, nói nhỏ:

- Bọn họ sợ ta chạy xuống miền nam, chi bằng mình chạy lên miền bắc.

Ông nắm tay A Tử, nhẹ nhàng mở cửa hông, thò đầu ra ngoài thám thính, thấy hai vệ sĩ sóng vai đi tuần qua. Tiêu Phong nấp vào sau cửa, tằng hắng một cái, hai tên vệ sĩ vội vàng chạy đến xem xét. Tiêu Phong giơ ngón tay điểm cho hai người ngã xuống kéo luôn vào trong bụi rậm, nói nhỏ:

- Mau thay đổi khôi giáp của hai người này.

A Tử mừng rỡ:

- Hay lắm!

Hai người liền lột mũ áo của hai vệ sĩ ra mặc vào người, tay cầm trường mâu, song song đi tuần. A Tử kép chiếc mũ sụp xuống che lông mày, len lén nhìn Tiêu Phong, thấy ông rụt người lại mà đi không khỏi tức cười. Hai người đi được chừng hai chục bước thì thấy một tên thập phu trưởng ở soái doanh dẫn mươi tên lính đi tuần ngang. Tiêu Phong và A Tử vội đứng nép sang một bên giơ giáo lên chào kính.

Gã thập phu trưởng gật đầu, đi ngang qua, dưới ánh lửa bập bùng, thấy A Tử áo quần lê thê quét đất, chẳng vừa vặn chút nào, không khỏi đưa mắt nhìn nàng, lại thấy yêu đao trễ xuống, tức giận giơ tay đấm vào vai cô gái, quát lên:

- Ngươi ăn mặc quần áo kiểu gì thế này?

A Tử lại tưởng hành tung đã bị lộ, vòng tay móc một cái, chộp trúng cổ tay, chân đá bật lên trúng ngay hông y. Tên thập phu trưởng chỉ kêu lên được một tiếng đã văng ra tận đằng xa.

Tiêu Phong nói:

- Chạy mau!

Ông nắm tay A Tử xông lên. Mười tên thân binh cùng la ó om xòm:

- Có thích khách! Có gian tế!

Họ vẫn không biết hai người chính là Tiêu Phong và A Tử. Hai người chạy được một quãng thì thấy từ phía trước có độ mươi kỵ binh chạy đến, Tiêu Phong giơ trường mâu lên quét ngang một cái, những người ngồi trên lưng ngựa lịch bịch ngã xuống, tay phải hất mạnh, ném A Tử lên trên yên, chính mình cũng nhảy lên một con, gò cương quay lại chạy thẳng về phía cửa bắc.

Khi đó tướng sĩ trong Nam Viện Đại Vương phủ đã nghe được tin nên từ bốn phía vây lại. Tiêu Phong giục ngựa chạy nhanh, quả nhiên đúng như ông dự liệu, quân lính mười phần đến tám dồn xuống phía nam đề phòng ông chạy về Nam triều, phía bắc chỉ lưa thưa có mấy người. Bọn đó bụng vốn đã khiếp tuy phải theo quân lệnh tiến ra ngăn trở nghe Tiêu Phong quát lên một tiếng thì liền dạt cả ra, chỉ từ xa xa hô hoán rượt đuổi, đến khi Ngự Doanh Đô Chỉ Huy tăng viện người tới, Tiêu Phong và A Tử đã chạy xa rồi.

Tiêu Phong giục ngựa chạy đến cửa bắc, thấy cửa thành đóng chặt, đằng trước lố nhố đến hơn trăm tên lính, ai nấy cầm trường mâu chặn đường. Nếu như Tiêu Phong xung sát tiến qua, một trăm tên lính làm sao chặn nổi ông thế nhưng chỉ cầu thoát thân, thực không muốn sát hại quân sĩ bản quốc, lập tức vòng tay qua ôm lấy A Tử, chân phải điểm lên bàn đạp, hai chân đã đứng sừng sững trên lưng ngựa, hít một hơi, nhảy ngay lên trên đầu thành. Nhảy một cái vốn không thể lên cao như thế được nhưng ông đã dự bị từ trước, khi thân hình vừa hơi trầm xuống, trường mâu bên phải đã chống vào tường, tá lực hất một cái người vọt lên trên.

Ông nhìn ra ngoài thấy tối đen như mực không một ánh lửa, quả không ai ngờ ông chạy ra cửa bắc nên không có binh sĩ thủ ngự. Tiêu Phong hú lên một tiếng dài quay lại nói với người trong thành:

- Các ngươi quay về bẩm với hoàng thượng là Tiêu Phong đắc tội với đấng chí tôn, không dám gặp để từ biệt. Đại ân đại đức của hoàng thượng, Tiêu Phong này mãi mãi không quên.

Ông nắm ngang hông A Tử, quay người lại chỉ cần nhảy xuống khỏi thành thì chim sổ lồng đã tìm về trời cao, cá thoát lưới đã ra được bể rộng, không còn gì câu thúc nữa.Ông lòng mừng thầm, đang định nhún mình đột nhiên thấy bụng đau quặn lên, hai cánh tay mềm nhũn, tay cầm ngang lưng A Tử lỏng ra, rồi hai đầu gối sụm xuống, ngồi bệt dưới đất, tưởng chừng có hàng nghìn hàng vạn lưỡi dao nhỏ đang đậm chém trong người, nhịn không nổi kêu ối lên một tiếng. A Tử kinh hãi, kêu lên:

- Tỉ phu sao thế?

Tiêu Phong toàn thân co quắp, hai hàm răng đập vào nhau, hổn hển nói:

- Ta ... ta ... ta trúng ... chất kịch độc ... Đợi ta ... vận khí ... vận khí đẩy chất độc ...

Ông lập tức vận khí vào đan điền, toan trục chất độc trong bụng ra. Ngờ đâu không vận khí thì còn đỡ, vừa mới đề khí thì tứ chi luôn cả toàn thân đau nhói lên, nội tức trong đan điền chỉ đưa lên được vài tấc, lại tụt ngay xuống. Tiêu Phong nghe tiếng vó ngựa dồn dập, mấy nghìn kỵ binh từ phía nam chạy lên, lại cố gắng đề khí một lần nữa, thấy chân tay tê dại không còn biết gì, biết mình trúng phải chất độc cực kỳ lợi hại, không thể nào dùng nội lực tống ra được liền nói:

- A Tử, em mau mau chạy đi. Anh ... anh không thể nào đi cùng với cô được nữa rồi.

A Tử chỉ suy nghĩ qua liền hiểu ngay đã trúng phải ngụy kế của Mục quí phi, nước thánh bà ta đánh lừa mình đem cho Tiêu Phong uống nào phải bùa bả gì đâu mà là thuốc độc. Nàng vừa kinh hoàng vừa hối hận, ôm chặt lấy cổ Tiêu Phong, khóc nức nở:

- Tỉ phu, ... em hại anh rồi, chất độc đó chính là em đã cho anh uống.

Tiêu Phong hoang mang không hiểu cô ta nói gì hỏi lại:

- Vì cớ gì mà cô lại muốn giết ta?

A Tử khóc òa lên:

- Không! Không! Mục quí phi đưa cho em một lọ nước, bảo là nếu anh uống thì sẽ mãi mãi thương yêu em, sẽ ... sẽ lấy em làm vợ. Em sao ngu ngơ quá, tỉ phu ơi, thôi em cùng chết với anh, từ nay hai đứa mình không còn rời xa nhau nữa.

Nói xong nàng rút phắt yêu đao, định đưa lên cứa ngang cổ mình. Tiêu Phong vội ngăn lại:

- Khoan ... khoan đã!

Ông toàn thân như đang chìm trong bể lửa, lại như đang có muôn ngàn lưỡi dao xẻ da lóc thịt, cả ngoài lẫn trong cực kỳ đau đớn, không còn tính toán gì được nhưng chỉ suy nghĩ qua đã hiểu ngay tâm tư của A Tử liền nói:

- Ta không đến nỗi nào đâu, cô chớ có tìm cái chết.

Chỉ nghe tiếng kẹt kẹt hai cánh cửa nặng của bắc môn mở toang, mấy trăm kỵ mã chạy ra xí xố bày trận, rồi từng đội từng đội từ phía nam tiếp ứng đi ra khỏi thành. Tiêu Phong ngồi trên đầu thành nhìn về phương bắc thấy ánh lửa dài đến mấy dặm như những con rồng đang ngoằn ngoèo bò lên, nhìn lại phương nam đến non nửa thành đều có ánh đuốc bập bùng, nghĩ thầm: "Hoàng thượng đem bao nhiêu binh mã ngự doanh điều động ra cả, chỉ cốt bắt được một mình ta". Chỉ nghe bên trong bên ngoài thành tướng sĩ hô lớn:

- Phản tặc Tiêu Phong, mau mau đầu hàng.

Tiêu Phong lại thấy trong bụng đau nhói, nói nhỏ:

- A Tử, cô tìm cách chạy đi thôi.

A Tử đáp:

- Chính tay em hạ độc giết anh, làm sao sống một mình cho được?

E.m ... em ... em nguyện cùng chết ở bên anh.

Tiêu Phong gượng gạo nở một nụ cười:

- Đây không phải là độc dược giết người mà chỉ làm cho người ta bị trọng thương, không thể cử động thôi.

A Tử mừng rỡ hỏi:

- Thật không?

Cô gái quay lại kéo Tiêu Phong nằm phục lên lưng mình. Thế nhưng nàng thân hình mảnh khảnh, Tiêu Phong lại cực kỳ cao to, A Tử cõng ông đứng lên, hai chân Tiêu Phong vẫn còn lệt sệt dưới đất. Ngay lúc đó, hơn chục tên võ sĩ Khất Đan đã trèo được lên đầu thành, kẻ thì cầm đao, kẻ thì cầm đuốc giơ lên nhưng vẫn sợ Tiêu Phong không dám đến gần. Tiêu Phong nói:

- Kháng cự vô ích, thôi để bọn chúng bắt mình đi.

A Tử nức nở:

- Không, không đâu! Ai đụng đến một sợi lông của anh, em sẽ giết nó ngay.

Tiêu Phong đáp:

- Đừng để vì ta mà phải giết người. Nếu như ta chịu giết người thì đã phụng chỉ lãnh binh nam chinh cho xong, việc gì mà phải náo loạn để gây ra nông nỗi này.

Ông cao giọng quát:

- Làm gì mà thập thà thập thò như thế, còn đâu khí độ nam nhi Khất Đan? Tất cả theo ta đi yết kiến hoàng thượng.

Chúng võ sĩ ngạc nhiên, cùng khom lưng cung kính đáp:

- Tuân lệnh! Chúng tôi phụng chỉ sai khiến nên vô lễ với đại vương, xin đại vương miễn trách.

Tiêu Phong làm Nam Viện Đại Vương không lâu nhưng hậu đãi bộ thuộc, uy vọng bao trùm phương bắc, tướng sĩ Khất Đan rất là kính phục. Trong đám người những kẻ trước đây phụ họa "phản tặc Tiêu Phong" bây giờ ai nấy ngượng ngập, sinh lòng sợ sệt không ai còn dám vô lễ.

Tiêu Phong vịn vào vai A Tử, cố gượng đứng lên, lục phủ ngũ tạng tưởng như bị ai xoắn lại cắn xé, các binh sĩ đứng cách xa cả trượng tra đao vào vỏ, nhìn theo ông từng bậc, từng bậc xuống thành. Các tướng sĩ thấy Tiêu Phong hạ thành rồi, ai nấy vội vàng xuống ngựa, hàng nghìn hàng vạn người đột nhiên im phăng phắc.

Trong ánh lửa lập lòe, Tiêu Phong nhìn những khuôn mặt chất phác nghiêm cẩn kia, trong lòng nổi lên một tình cảm ấm áp: "Nếu như ta nam chinh thì hơn một vạn tướng sĩ nơi đây, chẳng biết có được tới một nửa quay về Bắc quốc hay không? Nếu như ta thực sự cứu được bấy nhiêu sinh linh thì dù hoàng thượng đem ra xử tử cũng không có gì hối hận. Chỉ sợ rằng hoàng thượng giết ta xong lại sai người khác lãnh binh xuống phương nam thôi". Nghĩ đến đó, ngực lại đau nhói lên thân hình dường như sắp sửa gục xuống.

Một viên tướng dắt ngay con ngựa mình đang cưỡi tới, đỡ cho Tiêu Phong lên yên. A Tử cũng cưỡi một con đi theo sau. Một đoàn người tiền hô hậu ủng, quay về vương phủ. Các tướng sĩ tuy bắt được Tiêu Phong, đúng ra là lập đại công nhưng chẳng một ai ra chiều vui vẻ. Chỉ nghe thấy tiếng giáp sắt loảng xoảng, hàng vạn con ngựa chạy lộp cộp trên đường lát đá nhộn nhịp cả lên nhưng tuyệt nhiên không một ai cất tiếng reo hò.

Đoàn người đi qua con đường cái ở cửa bắc, đến bên cầu Bạch Mã, Tiêu Phong giục ngựa lên cầu. A Tử đột nhiên nhảy vọt lên, hai chân nhún vào yên nghe tùm một tiếng đã nhảy xuống sông.

Tiêu Phong thấy vậy thật ngoài dự liệu, không khỏi kinh hãi nhưng lập tức lại mừng thầm, nhớ lại lần đầu tiên gặp cô bé bướng bỉnh này, nàng đã lặn xuống dưới Tiểu Kính Hồ giả chết, bơi lội giỏi như thế trên đời hiếm có, đến cả cha mẹ cô ta cũng còn mắc lừa, bây giờ nếu như cô ta theo dòng nước mà trốn đi thì còn gì hơn, có điều từ nay trở đi e rằng khó có ngày gặp lại, trong lòng không khỏi bùi ngùi, lớn tiếng nói:

- A Tử, cô việc gì phải nông cạn thế? Hoàng thượng có làm khó gì em đâu, hà tất phải nhảy xuống sông tự tận?

Chúng tướng sĩ nghe Tiêu Phong nói thế, đợi một hồi thấy A Tử không trồi lên, tin tưởng rằng nàng quả thực trầm mình rồi. Hoàng đế chỉ hạ chỉ bắt Tiêu Phong, A Tử có chết cũng vậy, có chạy cũng vậy không một ai thèm để tâm, đứng trên cầu trông ngóng một lúc thấy dòng sông không động tĩnh gì bèn cùng Tiêu Phong đi tiếp.


Chú thích:

1 Sử gọi là vua Triết Tông. Đoạn này mâu thuẫn với những chi tiết ở trước. Đoàn Dự sinh năm 1083, tới lúc này khoảng trên dưới 20, vậy phải vào năm 1102 tức là đời vua Huy Tông (lên ngôi 1101). Vua Triết Tông lên ngôi từ 1086 lúc 10 tuổi, bà Thái hậu Cao thị nhiếp chính, khi Cao thị mất (1093) thì Đoàn Dự chỉ mới 10. (Xin xem thêm Hậu Cảnh Thiên Long Bát Bộ của Nguyễn Duy Chính)

2 bà nội, tiếng gọi thân mật và kính trọng

3 thùy liêm (thính chính) là buông rèm xuông ngồi đằng sau nhà vua nhắc việc nước

4 tức Tô Đông Pha

5 1041-1098

6 (1035-1105) được Vương An Thạch dùng làm Tam Ti Sứ (quan trông coi việc tài chánh, thuế má và khai thác các mỏ), là một nhân vật trong yếu trong việc thi hành Tân Pháp.

7 Thẩm Khởi muốn tâng công với Vương An Thạch dâng sớ xin đánh Giao Châu (tức nước ta) để thị uy chư hầu. Triều đình nhà Tống sai Lưu Gi chuẩn bị, đặt ra nhiều lề luật sách nhiễu nước nam nên vua Lý Nhân Tông sai Lý Thường Kiệt và Tôn Đảng đánh sang tận châu Khâm, châu Liêm.

8 (1031-1095) là một nhà bác học lỗi lạc của Trung Hoa tác giả bộ Mộng Khê Bút Đàm không biết có phải Thẩm Quát này không? Người dịch chưa tìm ra ông sai lầm gì trong việc thi hành chính sách mà bị chỉ trích ở đây. Đoạn này chỉ tạm dịch theo nguyên văn, khi nào tìm thấy thêm chi tiết mới chúng tôi sẽ bổ cứu.

9 quân du: nhà nước mua những chỗ có hàng hóa dư, đem phân phối chỗ thiếu cho khỏi bị đầu cơ tích trữ làm giá của con buôn (xem thêm Hậu Cảnh TLBB, biên khảo của Nguyễn Duy Chính)